Đổi mới các nội dung HTKT

Từ quy trình lập quy hoạch HTKT đô thị hiện tại. Căn cứ vào Luật số 30/2009/QH12 của Quốc hội: Luật Quy hoạch đô thị, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật (HTKT) được nêu tại Chương II, Mục 5 với các điều: Điều 36. Đối tượng của quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị; Điều 37. Nội dung quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị; Điều 38. Đồ án quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật.

Căn cứ vào Nghị định số 37/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/04/2010 về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị, quy hoạch HTKT được nêu ở Chương III, Mục 1 và Mục 2 với các điều: Điều 15. Nội dung đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc Trung ương; Điều 16. Nội dung đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã; Điều 17. Nội dung đồ án quy hoạch chung thị trấn, đô thị loại V chưa công nhận là thị trấn; Điều 18. Nội dung đồ án quy hoạch chung đô thị mới; Điều 19. Nội dung đồ án quy hoạch phân khu; Điều 20. Nội dung đồ án quy hoạch chi tiết; Điều 21. Nguyên tắc lập đồ án quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật; Điều 22. Nội dung đồ án quy hoạch chuyên ngành giao thông đô thị; Điều 23. Nội dung đồ án quy hoạch cao độ nền và thoát nước mặt đô thị; Điều 24. Nội dung đồ án quy hoạch cấp điện đô thị; Điều 25. Nội dung đồ án quy hoạch chiếu sáng đô thị; Điều 26. Nội dung đồ án quy hoạch cấp nước đô thị; Điều 27. Nội dung đồ án quy hoạch thoát nước thải đô thị; Điều 28. Nội dung đồ án quy hoạch xử lý chất thải rắn; Điều 29. Nội dung đồ án quy hoạch nghĩa trang; Điều 30. Nội dung đồ án quy hoạch thông tin liên lạc.

Tư duy quy hoạch thông thường hiện nay là “lập theo quy trình” và “duyệt theo quy trình”. Điều này đã hạn chế tính sáng tạo của các nhà quy hoạch HTKT, thường được cho là khô khan, nhàm chán! Ví dụ ở Ô 1 cho thấy một phần đáng buồn của việc “quy trình hoá” của

Ô 1: Sông Hồng chảy qua thành phố Pleiku!?
Cách đây khoảng 10 năm, một đơn vị tư vấn QHĐT của Hà Nội báo cáo đồ án Điều chỉnh QHC TP. Pleiku. Khi đọc trong thuyết minh đồ án tại cuộc báo cáo quy hoạch ở thành phố Pleiku năm ấy, mọi người đã buồn cười khi có đoạn viết: “Sông Hồng chảy qua thành phố Pleiku!?”.
Thật là cười ra nước mắt! Đó không chỉ là lỗi chính tả. Đó là sản phẩm của công nghệ vi tính hiện đại khi copy từ đồ án khác mà sửa không hết lỗi. Song đau lòng hơn cả đó chính là sự “quy trình hoá” khô cứng thiếu tính sáng tạo khi lập đồ án QHĐT.
Nguồn: Tác giả.

các nhà QHĐT hiện nay. Như vậy là bên cạnh nội dung HTKT trong các đồ án QHĐT lại có đồ án quy hoạch chuyên ngành cho từng bộ môn/từng loại
HTKT, sự khác biệt của chúng là gì? Và đó chính là điều bất cập cần được nghiên cứu cẩn trọng như là một nội dung của sự đổi mới.

Nhìn lại quá khứ.
Đô thị hóa và phát triển đô thị đã và đang tạo nên những động lực phát triển chính trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu phát triển đất nước cơ bản thành nước công nghiệp vào năm 2020. Theo báo cáo tại Diễn đàn đô thị Việt Nam (04/11/2015), tính đến tháng 10/2015, cả nước đã có 788 đô thị, với tỷ lệ đô thị hóa đạt 35,2%. Tuy nhiên quá trình đô thị hóa đã làm cho dân số tăng nhanh trong khi cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị mặc dù đã có những bước phát triển đột phá, vẫn không đáp ứng đầy đủ, tạo nên sức ép quá tải ngày càng lớn. Vì vậy cần có sự bổ xung, đổi mới các nội dung về hạ tầng kĩ thuật trong công tác lập đồ án quy hoạch đô thị. Có thể kể ra một số vấn đề mới bắt đầu được quan tâm trong công tác lập đồ án quy hoạch đô thị như sau:

a) Tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới hạ tầng kĩ thuật đô thị
BĐKH toàn cầu có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các đô thị của Việt Nam, đặc biệt ảnh hưởng tới các công trình hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội đô thị. Số lượng đô thị hiện có lớn cùng với tốc độ đô thị hóa cao đồng nghĩa với việc những ảnh hưởng, tác động của BĐKH đến hệ thống đô thị tại Việt Nam sẽ là một áp lực lớn. Mỗi vùng đô thị lại chịu những mức độ tác động khác nhau. Cụ thể, nhóm đô thị ven biển như vùng đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đông Nam Bộ sẽ có nguy cơ bị ngập lụt, nước biển dâng, triều cường, mất đất, nhiễm mặn nguồn nước… Có khoảng 40 tỉnh với khoảng 128 đô thị có nguy cơ ngập cao, trong đó có 24 đô thị thuộc 15 tỉnh trong nhóm này có nguy cơ ngập nặng đến rất nặng. Riêng ĐBSCL sẽ là một trong ba đồng bằng có khả năng bị ngập lụt, mất đất lớn nhất trên thế giới Theo dự báo, khi mực nước biển dâng lên một mét, toàn bộ 13 tỉnh, thành của ĐBSCL có nguy cơ ngập nặng, có 63 đô thị nguy cơ ngập cao. Không chỉ gây ngập úng, BĐKH còn gây mưa lớn, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất. Có 29 tỉnh thuộc trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với khoảng 143 đô thị chịu ảnh hưởng; trong đó có 17 đô thị lớn, trung bình. Đặc biệt, các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn, các khu kinh tế tổng hợp đóng vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia và cấp vùng đang được tập trung đầu tư lớn về cơ sở sản xuất, hạ tầng kỹ thuật, nhà ở… được cảnh báo sẽ chịu ảnh hưởng nặng từ BĐKH.

b) Đối tượng hạ tầng kĩ thuật: không gian ngầm đô thị còn thiếu vắng
Khai thác không gian ngầm cho phát triển và chỉnh trang đô thị là xu hướng tất yếu của phát triển đô thị hiện đại như một phương cách tận dụng tài nguyên và hướng tới phát triển bền vững. Sự phát triển vượt bậc của đô thị Việt Nam không thể tách rời việc khai thác không gian ngầm với các lợi ích: tiết kiệm năng lượng; nâng cao hiệu quả sử dụng mặt đất, giải quyết được vấn đề mật độ tập trung quá cao tại các khu trung tâm; nâng cao năng lực cơ sở hạ tầng, thực hiện phân lớp giao thông dễ dàng; giữ gìn cảnh quan lịch sử văn hóa cho đô thị; tăng diện tích các khu vực xanh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện sinh thái đô thị. Nhìn lại, hầu hết các công trình đã có và các dự án ngầm đang, sắp triển khai đều mang tính cục bộ, khai thác chỉ cho một mục đích chứ chưa có sự liên kết một cách tổng thể cho cả vùng, cả thành phố. Ngay bản Quy hoạch TP. Hà Nội 2030, cũng như một số đồ án quy hoạch đô thị cũng chưa đề cập rõ nội dung quy hoạch này. Việc xây dựng không gian ngầm đơn lẻ thiếu tầm nhìn dài hạn, dẫn đến nguy cơ tài nguyên đất ngầm bị sử dụng phí phạm không thể cứu vãn được như cảnh báo của các chuyên gia quốc tế: “Người sử dụng đầu tiên” đến chiếm một vị trí thuận lợi nhất cho mình hoặc nhu cầu cụ thể của mình như địa điểm, điều kiện địa chất, xây dựng dễ dàng hơn… mà không có bất kỳ tầm nhìn cho tương lai có thể sử dụng không gian ngầm tại địa điểm đó” (Pierrick Maire).

c) Quy hoạch chiếu sáng đô thị còn mới mẻ
Chiếu sáng đô thị (CSĐT) không chỉ đảm bảo an ninh, an toàn giao thông mà còn góp phần cải thiện hình ảnh đô thị, hướng tới giá trị thẩm mĩ, làm thay đổi sâu sắc hình ảnh của đô thị. Chiếu sáng đô thị, trong đó có nghệ thuật chiếu sáng đô thị luôn gắn liền với lịch sử phát triển của đô thị. Chất lượng đô thị được nâng cao cũng nhờ một phần vào tiêu chí chất lượng chiếu sáng đô thị. Ngày nay, chiếu sáng đô thị đang có xu hướng được chính quyền các đô thị đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo an ninh, an toàn, tiết kiệm năng lượng, góp phần tạo ra sự khác biệt, hấp dẫn, làm tăng thêm giá trị thương hiệu, hình ảnh mang tính biểu tượng của các đô thị trong phạm vi toàn cầu. Căn cứ vào các văn bản qui định (Luật, Nghị định, Thông tư…) theo quy hoạch CSĐT
mới chỉ được đề cập như là một nội dung trong quy hoạch cấp điện đô thị. Các đồ án Quy hoạch chung đô thị hầu như ít quan tâm đến vấn đề CSĐT hoặc nếu có cũng rất sơ bộ. Trong các đồ án Quy hoạch phân khu (QHPK), Quy hoạch chi tiết (QHCT) theo quy hoạch CSĐT cũng chỉ quan tâm chủ yếu đến chiếu sáng giao thông… Bởi vậy, theo các quy định hiện nay, quy hoạch CSĐT của Việt Nam không phải là quy hoạch CSĐT tổng thể bởi vì nó đòi hỏi các
tính toán, dự toán tổng mức đầu tư, xác định nguồn vốn thực hiện. Nó cũng không phải là quy hoạch CSĐT chi tiết bởi vì nó bao trùm chiếu sáng của toàn bộ thành phố. Để góp phần nâng cao chất lượng đô thị hóa và phát triển đô thị bền vững tại Việt Nam, Thủ tướng đã có quyết định số 1874/ QĐ-TTg phê duyệt Định hướng phát triển chiếu sáng đô thị Việt Nam đến năm 2025. Ngoài ra còn có các văn bản khác như: Nghị định số 79/2009/NĐ-CP ngày 28/09/2009 của Chính phủ về quản lý chiếu sáng đô thị (CSĐT), Thông tư hướng dẫn về CSĐT, TCXDVN 333:2005/Chiếu sáng nhân tạo bên ngoài các công trình công cộng và kĩ thuật hạ tầng đô thị/Tiêu chuẩn thiết kế, TCVN 4400:1987 - Kỹ thuật chiếu sáng/ Thuật ngữ và Định nghĩa; TCVN 259:2001 Tiêu chuẩn kĩ thuật chiếu sáng nhân tạo đường phố, quảng trường đô thị…

d) Sự thiếu đồng bộ giữa HTKT khu đô thị mới và HTKT ngoài khu đô thị
Hiện nay vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình phát triển đô thị. Trong đó, ở một số đô thị xảy ra tình trạng thiếu hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, tính kết nối hạ tầng còn yếu. Vấn đề ùn tắc giao thông, môi trường ô nhiễm, cảnh quan… ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên, đó là:
+ Do hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, phạm vi điều chỉnh chưa phủ kín, bỏ trống nhiều lĩnh vực, có chỗ chồng chéo.
+ Quá trình quản lý nhà nước về xây dựng còn chưa phù hợp yêu cầu phát triển giữa đô thị mới và khu đô thị cải tạo.

Nhiều đô thị còn thiếu quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Quy hoạch chung là cơ sở tổng thể, có tính định hướng cho sự phát triển của đô thị. Còn để phát triển bền vững phải có quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết. Vì thế các khu đô thị phát triển có tính chất chia cắt, riêng rẽ, vấn đề kết nối hạ tầng giữa các khu đô thị là rất khó khăn.

đ) Sự thay đổi của nội dung quy hoạch HTKT chưa theo kịp các mô hình phát triển đô thị
Trong những năm qua nhiều mô hình phát triển đô thị lần lượt xuất hiện với những khái niệm, tiêu chí khác nhau, đó là: đô thị công nghiệp, đô thị đại học, đô thị sinh thái, đô thị phát triển bền vững… và gần đây là đô thị ứng phó với BĐKH, đô thị xanh, đô thị có khả năng thích ứng và chống chịu…Tuy nhiên có rất ít sự thay đổi trong các nội dung quy hoạch HTKT cho từng loại đô thị, hay nói cách khác là rất thiếu tính sáng tạo trong các đồ án đó.

Hướng đến tương lai.
Trong tương lai để đổi mới nội dung quy hoạch HTKT trong việc lập đồ án QHĐT, tác giả đề xuất một số ý kiến sau đây:

a) Để ứng phó với BĐKH, việc điều tra, đánh giá mức độ tác động của BĐKH đến phát triển hệ thống đô thị hiện có và đô thịSË 82 . 2016 55 dự kiến hình thành mới trong giai đoạn đến năm 2020 càng trở nên bức thiết. Đồng thời phải có sự điều chỉnh trong công tác quy hoạch đô thị, đặc biệt trong công tác lập đồ án quy hoạch đô thị cần lồng ghép ứng phó tác động của BĐKH.

b) Để tổ chức các không gian ngầm phục vụ hoạt động đô thị thực sự hiệu quả, cần phải lên kế hoạch nhằm tận dụng hết khả năng quỹ đất ngầm mỗi vị trí. Đồng thời tận dụng mọi ưu thế của công trình ngầm để kết hợp nhiều chức năng nhằm phục vụ cho nhiều mục đích và kết
nối chặt chẽ với mặt đất thành một thể thống nhất. Với đặc thù riêng, quy hoạch không gian ngầm phải được thiết lập khác với cách làm quy hoạch trên mặt đất thông thường hiện nay. Thay vì đưa ra các bản vẽ cứng nhắc, việc trước tiên cần xây dựng các định chế thể hiện qua các văn bản về quyền, nghĩa vụ, phải liên kết không gian ngầm với mặt đất và các công trình trên mặt đất cũng như các chỉ dẫn kỹ thuật về kết nối (căn cứ vào Luật Đất đai đã bổ sung về quyền, nghĩa vụ sở hữu, chuyển nhượng không gian dưới lòng đất và các quy chế liên quan về lập dự án, xây dựng và vận hành khai thác không gian ngầm).

c) Chiếu sáng không chỉ đảm bảo an ninh, an toàn mà còn hướng tới giá trị thẩm mỹ, làm thay đổi hình ảnh của đô thị. Vì vậy chính quy hoạch đô thị phải xác lập rõ các định hướng quy hoạch hạ tầng chiếu sáng đô thị theo yêu cầu thực tiễn bắt đầu từ công tác hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn CSĐT hiện hành.

d) Đổi mới không có nghĩa là sao chép các thuyết minh cũ để rồi “thay tên, đổi họ”, lắp số liệu khác vào một cách thiếu sáng tạo, để được nghiệm thu, phê duyệt, thanh toán và có thu nhập.

đ) Đổi mới không chỉ là ngồi chờ ai đó đổi mới quy trình lập QHĐT thì ta sẽ đổi mới nội dung HTKT trong đó. Đổi mới phải là một quá trình ngay cả khi đang thực hiện lập quy hoạch HTKT theo quy trình hiện tại.

e) Mỗi đồ án quy hoạch HTKT phải như một đề tài NCKH, không đô thị nào giống đô thị nào, phải luôn sáng tạo và có nhiều đề xuất mới.

g) Đổi mới chính là luôn làm mới mình qua mỗi ngày làm việc.

h) Đổi mới phải bắt nguồn từ tình yêu lao động, yêu nghề nghiệp, để rồi có thể sống bằng nghề, sống tốt bằng nghề, tự hào với nghề, để xã hội và cơ quan không thể quên ta khi nhắc đến nghề của ta với những sáng tạo không mệt mỏi và đóng góp đầy trách nhiệm của ta trong đó.

i) Lê Nin từng nói “Học, học nữa, học mãi”. Đây không phải là một khẩu hiệu. Đây cũng không phải là một lời hiệu triệu đối với các Viện NCKH. Đây là mong muốn chính đáng của mỗi nhà khoa học nói chung và nhà quy hoạch HTKT đô thị nói riêng.

Vì vậy, phải tạo điều kiện cho lớp trẻ trong NCKH, trong học tập nâng cao nghề nghiệp; Phải biết tôn trọng những người dù tuổi đã cao mà vẫn còn học; Phải biết quý trọng/kính trọng những người dù đã về hưu và vẫn còn tiếp tục học: Đó chính là đổi mới tư duy trong quy hoạch HTKT đô thị hướng tới tương lai.

* Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam
Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng
Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Xây dựng (2003 và 2015).
2. Luật Quy hoạch đô thị (2009).
3. Các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Xây dựng và Luật QHĐT.
4. Ngô Trung Hải, Lưu Đức Cường và nnk - Hướng dẫn ứng phó biến đổi khí hậu lồng ghép trong quy hoạch đô thị - 2015.
5. Nguyễn Trúc Anh, Đinh Tuấn Hải - Hướng dẫn thiết kế quy hoạch xây dựng không gian ngầm lồng ghép trong quy hoạch đô thị - 2015.
6. Trương Văn Quảng - Cần hoàn thiện quy hoạch chiếu sáng đô thị - Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 1/2016.

 

(Nguồn:PGS. TS. Lưu Đức Hải - Tạp chí quy hoạch (Số 82))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website