Sau 30 năm đổi mới

Tổng quan về sự tiến hóa của phương pháp quy hoạch trên thế giới. Từ sau thế chiến thứ 2 tới nay, phương pháp quy hoạch đô thị cũng thay đổi theo từng thời kỳ. Quy hoạch phát triển bao gồm cả các quy hoạch phi không gian kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường - biến đổi khí hậu (BĐKH) và quy hoạch không gian - quy hoạch đô thị. Sự tiến hóa của phương pháp quy hoạch trên thế giới theo dự án “Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý đô thị TP.HCM” - VIE/95/051 - (Stregthening the Capacity for Urban Management and Planning in Ho Chi Minh City) do UNDP tài trợ từ 1996, có thể tóm tắt như sau:

Quy hoạch tồng thể (Master Planning)
Quy hoạch tổng thể là quy hoạch đô thị, quy hoạch chức năng do Le Corbusier đề xướng từ năm 1933 trong thời kỳ công nghiệp nên còn gọi là “quy hoạch đô thị hiện đại” hay “quy hoạch truyền thống”. Quy hoạch tổng thể nay còn được gọi là “quy hoạch phân khu chức năng” được sử dụng tràn lan sau thế chiến thứ 2 và phản ánh kế hoạch tập trung trong tay nhà nước thời bấy giờ và thịnh hành cho tới cuối thập niên 60 thế kỷ trước. Khi quy hoạch được phê chuẩn thành luật sẽ trở thành hệ thống quy định để kiểm sóat sử dụng đất đai chi tiết và còn được gọi là “quy hoạch định chế” (Statutory Plans).

Quy hoạch tổng thể phát triển theo nguyên tắc phân khu với sự tách biệt nghiêm ngặt phân định rõ ràng các hoạt động sử dụng đất và mật độ, quy hoạch định hướng mạnh mẽ về giao thông và vận tải cá nhân, các khu dân cư, nơi làm việc và dịch vụ công cộng. Tuy nhiên, cơ sở kinh tế - xã hội tạo ra các ý tưởng cho quy hoạch tổng thể đã không được xem là một phần của tiến trình quy hoạch. Thông thường thì các quy hoạch tổng thể được soạn thảo bởi các nhà quy hoạch chuyên nghiệp, các nhà tư vấn làm việc trong cơ quan tách biệt khỏi sự tham gia của cộng đồng và chỉ cuối cùng tiến trình soạn thảo quy hoạch mới được đem ra thảo luận chiếu lệ. Toàn cầu hóa sản xuất thương mại và tái cầu trúc lại nền kinh tế các nước đã làm quy hoạch tổng thể khá cứng nhắc đã trở thành một công cụ lỗi thời đối với nhà quy hoạch vì không thích nghi được với thị trường nên đã thất bại.
Quy hoạch cơ cấu (Sturcture Planning)
Trước những khiếm khuyết cứng nhắc của quy hoạch tổng thể nhiều nước đã tiến hành cải tiến các phương pháp quy hoạch. Các thành phố ở Anh quốc được xây dựng thập niên 1950 đã dẫn tới hình thành quy hoạch cơ cấu. Quy hoạch cơ cấu đề cập đến sự phát triển đất đai dài hạn và uyển chuyển hơn là nói rõ là xây dựng loại hình cụ thể nào trong bản quy hoạch. Bản quy hoạch cho thấy cơ cấu và hướng phát triển trong tương lai và bỏ lại quy hoạch chung cuộc (chi tiết) cho tiến trình sau đó. Quy hoạch cơ cấu là quy hoạch đô thị có sự tham gia của công chúng và sự phối hợp của các tổ chức liên ngành. Quy hoạch cơ cấu được nước Anh chính thức đưa vào sử dụng năm 1968 để chỉ dẫn tổng quát về phát triển không gian và để kiểm sóat sự phát triển. Quy hoạch cơ cấu còn có tên gọi khác như: “quy hoạch hướng dẫn” (Guide Plans), “quy hoạch cấu trúc” (Framework Plans), “quy hoạch chỉ dẫn” (Indicative Plans). Quy hoạch cơ cấu thịnh hành cho đến cuối thập niên 1970. Tuy nhiên quy hoạch cơ cấu đã không có chỗ để bàn đến các khía cạnh phi không gian của sự phát triển, chẳng hạn như kinh tế - xã hội và môi trường. Do vậy, quy hoạch cơ cấu cũng không thích nghi được với toàn cầu hóa và cơ chế thị trường.
Quy hoạch chiến lược (Strategic planning)
Quy hoạch chiến lược ra đời ở Mỹ trong thập niên 60 với nhiệm vụ hướng dẫn các tập đoàn, công ty điều chỉnh tổ chức để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đang thay đổi mau chóng trong xu thế toàn cầu hóa. Nó cũng chi phối sự quan tâm của các tập đoàn, công ty phương Tây là làm thế nào để đối phó với sự cạnh tranh xuất phát từ Nhật Bản và Đông Á. Quy hoạch chiến lược là quá trình xác định tầm nhìn, các mục đích chiến lược, các chính sách và chiến lược hành động của một cấu trúc lãnh thổ (phát triển theo địa giới hành chính hay theo đặc trưng) để sở hữu, sử dụng và sắp xếp hợp lý các nguồn tài lực lãnh thổ nhằm đạt được mục tiêu phát triển đề ra (theo Rem Koolhaas). Quy hoạch chiến lược là quy hoạch phát triển, phối hợp các nhu cầu
đa ngành và đa khu vực đối với các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực đó. Tuy nhiên giai đoạn này quy hoạch chiến lược chưa chú trọng
đến mục tiêu phát triển bền vững (PTBV).
Quy hoạch chiến lược hợp nhất (Integrated Strategic Planning)
Đầu thập niên 90, để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, đã ra đời “quy hoạch chiến lược hợp nhất” trên nền tảng của quy hoạch chiến lược, quy hoạch phát triển và khắc phục các tồn tại của nó. Quy hoạch chiến lược hợp nhất là sự hợp nhất giữa các quy hoạch kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và quy hoạch không gian vật chất để tìm ra vùng chung, tiếng nói chung và mục tiêu quy hoạch chung đảm bảo yêu cầu công bằng, sống tốt và tính bền vững.
Quy hoạch chiến lược hợp nhất là sự hợp tác về mặt tổ chức giữa nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp theo phương pháp quy hoạch có sự tham gia. Đó là sức mạnh để huy động các nguồn lực, phối hợp hành động trên diện rộng, là công cụ của chính quyền, đã thay đổi từ quan niệm “lập quy hoạch thành phố” sang “thành phố lập quy hoạch”.

Quy hoạch chiến lược phản ánh quan điểm xem quy hoạch như một quá trình bao gồm sự phối hợp liên ngành, sự khả thi về tài chính, những cơ chế tạo điều kiện thông qua việc khu vực nhà nước hỗ trợ hai khu vực hoạt động tư nhân chính thức và không chính thức, các cơ chế chọn lọc gắn với thực hiện và việc giám sát đánh giá sản phẩm của quy hoạch chiến lược này không phải chỉ là bản quy hoạch phát triển về mặt bằng mà là tập hợp các chiến lược có mối liên hệ lẫn nhau dùng trong việc phát triển thành phố bao gồm đất đai, cơ sở hạ tầng, tài chính, định chế, nghĩa là một quá trình phát triển đô thị đa ngành.

Quy hoạch chiến lược hợp nhất này càng được xem như một giải pháp phát triển đô thị hợp nhất có nhiều thành phần tham gia để đạt được quá trình tăng trưởng và quá trình hành động sửa sai ở cả quy mô toàn thành phố lẫn địa phương. Tuy nhiên quy hoạch chiến lược hợp nhất không thay thế được quy hoạch kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, quy hoạch đô thị đúng hơn là quy hoạch chiến lược hợp nhất như một cái dù bao trùm lên các loại quy hoạch nêu trên. Trong đó quy hoạch đô thị là nơi chứa đựng nhu cầu không gian của các quy hoạch chuyên ngành. Do vậy, cần giao cho một đơn vị đứng ra làm đầu mối hợp nhất các bản quy hoạch nêu trên. Một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc lại sử dụng phương pháp quy hoạch mang tính tổng hợp (Comprehensive Planning).
Tuy nhiên theo nghiên cứu của WB năm 2009: Có thể tư duy quy hoạch của chúng ta quá lạc hậu so với đòi hỏi của thực tế, các ràng buộc của tư duy cũ trong đổi mới quy hoạch có thể diễn giải việc chậm (hay cố tình cản trở) quy hoạch chiến lược hợp nhất vào Việt Nam.


Dự thảo Luật Quy hoạch
Hiện trạng quy hoạch ở nước ta
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định về quy hoạch đang được điều chỉnh bởi 71 văn bản luật, pháp lệnh và 73 nghị định. Tổng số lượng các loại quy hoạch đã lập theo quy định là 19.285. Thực tế cho thấy, công tác quy hoạch phát triển ở Việt Nam tuy đã đạt được nhiều kết quả ban đầu nhưng còn không ít hạn chế yếu kém, chưa thực sự trở thành công cụ quản lý hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội. Có thể nói, ở nước ta hiện nay là cơ chế “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” với quá trình hội nhập toàn cầu, hệ thống kinh tế này trở nên “hỗn hợp”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn sử dụng phương pháp quy hoạch truyền thống, vẫn kế thừa từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nên còn nhiều tồn tại yếu kém như: Sản phẩm quy hoạch nhanh chóng bị lạc hậu trước những sự thay đổi liên tục và nhanh chóng của thực tiễn. Cách tiếp cận còn nặng từ trên xuống, mang tính áp đặt thiếu linh hoạt và hạn chế khả năng phát huy mọi nguồn lực trong xã hội. Sự phối hợp đa ngành trong quá trình lập quy hoạch còn rất hạn chế dẫn tới sự chồng chéo giữa các loại quy hoạch phát triển ngành. Tụt hậu về phương pháp quy hoạch trong bối cảnh toàn cầu hóa. Có thể nói “mạnh ai nấy làm” nên “khập khễnh” không thể phát triển bền vững. Hiện nay ở nước ta lập quá nhiều quy hoạch nhưng không đồng bộ, thiếu thống nhất, thiếu sự liên kết khớp nối và còn nhiều chồng lấn mâu thuẫn. Chất lượng và hiệu quả của quy hoạch thấp, điều chỉnh bổ sung nhiều mà không gắn với yêu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện, quy hoạch bị buông lỏng, chưa kịp thời, thiếu cương quyết, quản lý quy hoạch do nhiều cơ quan quản lý, thiếu cơ quan đầu mối, thiếu đảm bảo tính tập trung. Nguyên nhân trên là do tư duy và nhận thức về quy hoạch còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế yếu kém trong công tác quy hoạch là phương pháp nội dung quy hoạch chưa phù hợp với xu thế của thế giới.

Phương pháp quy hoạch và nội dung quy hoạch chưa phù hợp với kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, vì vậy cần có Luật Quy hoạch để giúp nhà nước trong quản lý điều hành kinh tế xã hội bảo vệ môi trường không gian thông qua đó thể hiện được sự công bằng, hài hòa giữa vật chất - tinh thần, giữa kinh tế - xã hội và đảm bảo tính hiệu quả và tính bền vững theo đó quy hoạch cần phải được nghiên cứu theo hướng đa ngành gắn với không gian, lãnh thổ. Có thể nói ngành quy hoạch cần thay đổi cách tiếp cận cụ thể, từ đơn ngành sang cách tiếp cận tổng hợp, hệ thống và đa ngành.

Đưa quy hoạch tích hợp vào Dự thảo Luật Quy hoạch hướng đến mục tiêu phát triển bền vững PTBV và thích ứng với BĐKH Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV BCH TƯ Đảng khóa XI “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020” có chỉ rõ cần: “Xây dựng Luật Quy hoạch có phạm vi điều chỉnh chung cho các loại quy hoạch phát triển trên phạm vi cả nước”. Còn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Hiện nay, Chính phủ đang giao Bộ KH-ĐT chủ trì soạn thảo Luật Quy hoạch. Bộ KH-ĐT đang tiến hành bước triển khai đầu tiên. Về cơ quan thẩm định quy hoạch Bộ KH-ĐT cũng là cơ quan độc lập có thể thẩm định quy hoạch. Nên khi soạn luật Bộ KH-ĐT sẽ đưa một phương án là để Bộ đứng ra làm cơ quan đầu mối thẩm định liên kết các loại quy hoạch, tránh chồng chéo, dàn trải lãng phí. Bộ đang là đầu mối tham mưu chính phủ hoạch định, phân bố vốn nên đủ khả năng xem chúng ta có đủ nguồn lực thực hiện tổng thể các quy hoạch đã được duyệt hay không”.

Có thể nói, các điều nêu trên chính là cơ sở để đưa Phương pháp “Quy hoạch chiến lược hợp nhất”/ Quy hoạch tích hợp (ra đời từ thập niên 1990 trong thời kỳ toàn cầu hóa – kinh tế thị trường để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững) vào Luật Quy hoạch đang sọan thảo ở nước ta. Quy hoạch chiến lược hợp nhất được đưa vào Việt Nam là nhờ dự án VIE/95/051. Quy hoạch tích hợp cũng phù hợp với tinh thần Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) số 153.2004/ QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 là “Quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển của các ngành địa phương nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến
bộ xã hội và bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước”. Quy hoạch chiến lược hợp nhất là hợp nhất các quy hoạch: Kinh tế, xã hội, bảo vệ môi rường và quy hoạch đô thị để tìm vùng chung/tiếng nói chung đảm bảo công bằng, sống tốt và tính bền vững.

Trên cơ sở vùng chung, tiếng nói chung cần điều chỉnh các bản quy hoạch chuyên ngành cho phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Mỗi quy hoạch lại có nhiều chiến lược, mỗi chiến lược lải có nhiều dự án, chương trình, mỗi dự án, chương trình có thể có nhu cầu về không gian, đầu ra của quy hoạch chiến lược hợp nhất, chính là đầu vào của quy hoạch đô thị đã được điều chỉnh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Còn quy hoạch
đô thị là nơi chứa đựng nhu cầu không gian của các quy hoạch chuyên ngành. Tuy nhiên quy hoạch chiến lược hợp nhất không thay thế được các bản quy hoạch kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và quy hoạch đô thị, đúng hơn là quy hoạch chiến lược như một cái dù bao trùm lên các loại quy hoạch nêu trên. Do vậy, cần giao cho một đơn vị đứng ra làm đầu mối hợp nhất các bản quy hoạch nêu trên, cả ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố, ở TP.HCM hiện nay là Viện Nghiên cứu Phát triển.

Quy hoạch chiến lược hợp nhất là sự hợp tác về mặt tổ chức giữa nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp theo phương pháp quy hoạch có sự tham gia. Điều đó là sức mạnh để huy động các nguồn lực và phối hợp hành động trên diện rộng, là công cụ quản lý của chính quyền, cho nên đã thay đổi từ quan niệm “lập quy hoạch thành phố” sang “thành phố lập quy hoạch”. Quy hoạch chiến lược hợp nhất so với quy hoạch truyền thống có những điểm mới sau đây:

  • Mang tính chiến lược thay vì toàn diện.
  • Linh hoạt (hay “động”) thay vì cứng nhắc.
  • Mang tính hành động thay vì lý thuyết.
  • Tập trung vào quy trình thay vì sản phẩm.
  • Có sự tham gia rộng rãi của cộng đồng và các bên liên quan thay vì ý chí chính trị và quan điểm chuyên gia thuần túy.
  • Tầm nhìn dài hạn thay vì nhiệm ky.ø
  • Tính đến toàn cầu hóa thay vì chỉ địa phương
  • Đóng vai trò điều phối và hợp nhất liên ngành trong hoạch định chính sách phát triển và quản lý đô thị thông qua khuyến khích các cơ quan quản lý phối hợp quy hoạch ngành theo không gian.
  • Kiến tạo hình thức đô thị hóa mới và hình thái đô thị theo hướng thân thiện với môi trường, bảo vệ tài nguyên và nâng cao chất lượng không gian sống.

Quy hoạch thích ứng với BĐKH
Trong thời kỳ BĐKH, để đáp ứng xu hướng biến đổi khí hậu vào hệ thống đô thị và cải thiện khả năng đáp ứng, cần ứng dụng chiến lược kép. Khả năng đáp ứng trong bối cảnh này được hiểu rộng như là khả năng của một hệ thống để quản lý cả hai việc thích ứng với biến đổi khí hậu (khả năng thích ứng) và đảm nhiệm việc khắc phục việc biến đổi khí hậu (khả năng khắc phục/ giảm nhẹ) (Tomkins & Adger 2005, Yohe 2001). Mặt khác thì “Quy hoạch thích ứng với BĐKH” được triển khai trên cơ sở kết hợp giữa quy hoạch từ trên xuống với quy hoạch từ dưới lên, do đó “điều kiện phải đáp ứng” cho phép tạo nên “hệ thống học thích ứng”, với điều kiện phải tích hợp thêm “các chiến lược thích ứng và giảm nhẹ BĐKH” vào “quy hoạch chíến lược hợp nhất”.
Do vậy cần đổi mới phương pháp quy hoạch ở nước ta đưa “quy hoạch tích hợp” vào “Luật Quy hoạch” để đảm bảo phát triển bền vững trong kinh tế thị trường - toàn cầu hóa, khủng hoảng sinh thái và BĐKH.

Tuy trong dự thảo Luật Quy hoạch hiện nay đã chuyển tải một số nội dung của phương pháp quy hoạch chiến lược hợp nhất trong quy hoạch các cấp nhưng chưa tạo thành hành lang pháp lý có tính thể chế để quy hoạch chiến lược hợp nhất trở thành công cụ chính cho hệ thống quy hoạch lãnh thổ góp phần đưa đất nước ra với thế giới. Theo Lawrie Wilson (Úc), tại các nền kinh tế phát triển công tác quy hoạch và quản lý phát triển chú trọng rõ rệt vào việc đạt được “các kết quả” như dự kiến các kết quả cuối cùng, trong khi Việt Nam vẫn còn chú trọng vào quá trình – nói chung là không có lợi cho kế quả. Do đó hệ thống quản lý phát triển “hiệu quả” phải là cốt lõi cho việc áp dụng và thực hiện tất cả các quy hoạch được mô tả trong dự thảo Luật Quy hoạch. Vì vậy cần chuyển từ quy trình quy hoạch chỉ dựa trên “quản lý xây dựng” sang quy trình quy hoạch dựa trên “giá trị quy hoạch”, và vấn đề quản lý phát triển cần được đưa vào dự thảo Luật Quy hoạch. Hy vọng quy hoạch phát triển ở nước ta sau 30 năm đổi mới sẽ theo kịp xu thế của thế giới.
Hướng tới quy hoạch đô thị hậu hiện đại
Trong thời kỳ toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, hậu công nghiệp, thông tin và lập trình, khủng hoảng sinh thái thì không thích hợp nếu quy hoạch không gian vật chất lại vẫn sử dụng quy hoạch “đô thị hiện đại” truyền thống theo “phân khu kiểu hình học cứng nhắc thiếu sự linh hoạt”. 

“Trong khuôn khổ của quy hoạch chiến lược hợp nhất”, cần sử dụng “quy hoạch đô thị hậu hiện đại” có tính đa phương thì ngoài phân khu còn cần linh hoạt và hợp lý và đa dạng có thể còn bao gồm nhiều loại: từ không gian lịch sử, không gian trí tuệ, không gian tinh thần, không gian nghệ thuật và không gian văn hóa đến không gian tự nhiên… Về quy hoạch đô thị, thì ở nước ta từ sau 1954 tới nay (theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 khi chỉ tập trung chủ yếu vào 3 loại quy hoạch: QH chung, QH phân khu và QH cho tiết để ràng buộc mọi hoạt động đầu tư vào một “khuôn khổ cứng nhắc” của QH chi tiết) thực chất là vẫn sử dụng theo phương pháp quy hoạch của Liên Xô cũ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy hoạch chức năng do Le Corbusier đề xướng vào thời kỳ công nghiệp, hay còn được gọi là quy hoạch tổng thể, quy hoạch đô thị hiện đại hay quy hoạch đô thị truyền thống, đó là quy hoạch phân khu chức năng kiểu hình học cứng nhắc, thiếu linh hoạt không thích ứng với kinh tế thị trường, toàn cầu hóa với hàng trăm hàng ngàn các nhà đầu tư tư nhân và cá nhân
mà trong đó sự điều tiết của nhà nước rất hạn chế.

Trên thực tế, công tác quy hoạch đô thị ở nước ta hiện nay vẫn cố gắng dự báo và định hướng tối đa mọi việc. Trên cơ sở đó chính quyền luôn có mong muốn kiểm soát mọi quy định về quy hoạch và kế hoạch. Kế hoạch hóa thường ít linh hoạt hơn thị trường và chỉ có tác động đến những “khối lượng hạn chế” trong khi đó thị trường có thể tác động đến những “khối lượng có tiềm năng không hạn chế”. Điều này buộc công tác quy hoạch và kế hoạch phải thay đổi để có thể phản ứng và điều chỉnh thị trường. Tóm lại, cách nhìn trong quy hoạch đô thị ở nước ta vẫn là tạo ra một cơ cấu ổn định trong tương lai theo kế hoạch. Trong khi đó công cụ quy hoạch trong kinh tế thị trường cần được xem như những “công cụ điểu tiết và điều chỉnh” trong một thực tế kinh tế - xã hội năng động và linh hoạt.

Theo Lawrie Wilson, quy hoạch xây dựng tổng thể của Việt Nam là di tích của thời kỳ tiền đổi mới và rất ít có giá trị trong thời kỳ hậu gia nhập WTO. Bạn có thể đứng lại và có cái nhìn tổng quan về đa số các thành phố ở Việt Nam, rằng một điều không thể bác bỏ chính là quy hoạch đô thị như hiện nay đang áp dụng đã thất bại trong việc cung cấp chất lượng cuộc sống như đã hứa hẹn. Thời kỳ hiện nay là thời kỳ toàn cầu hóa - kinh tế thị trường, hậu công nghiệp - thông tin và lập trình và khủng hoảng sinh thái thì không thể sử dụng mãi phương pháp quy hoạch đô thị hiện đại mà chuyển sang sử dụng phương pháp quy hoạch đô thị hậu hiện đại vì: So với quy hoạch hiện đại đơn thuần công năng thì quy hoạch đô thị hậu hiện đại khẳng định rằng phải thỏa mãn yếu tố con người sống trong đô thị, mặt khác một đô thị không đơn thuần chỉ là công năng mà còn có tính bản sắc hay giá trị lịch sử. Theo William S.W.Lim: “Không gian hậu hiện đại có tính đa phương và có thể gồm nhiều loại từ không gian lịch sử, không gian trí tuệ, không gian tinh thần, không gian nghệ thuật và không gian văn hóa…đến không gian tự nhiên và không gian thật sự…

Tính hậu hiện đại là một hiện tượng văn hóa toàn cầu. Sự năng động và khác biệt của nó có tính toàn cầu thích ứng với địa phương...”. Thực ra thì đô thị hậu hiện đại cũng chính là sự hòa trộn giữa các yếu tố hiện đại và hậu hiện đại trong thiết kế và tổng thể. Do vậy, có thể nói quy hoạch đô thị hậu hiện đại ngày nay thì vừa “phân khu chức năng” vừa phải “linh hoạt, hợp lý và rất đa dạng” vì nó còn được quyết định nhiều hơn bởi các đại lượng như vị trí địa hình, sự liên hệ giữa cảnh quan và nước, các di sản kiến trúc cần bảo tồn… Nếu chỉ sử dụng “Quy hoạch phân khu” của quy hoạch đô thị hiện đại thì không thể cứng nhắc “kiểu hình học” như trước đây vì sẽ “không hiệu quả”, vì “đô thị rất phức tạp” do vậy mà cần “linh hoạt” tổ chức không gian để hợp nhất giữa khu ở, khu làm việc và dịch vụ công cộng, phát huy vai trò của người đi bộ và tránh giao thông con lắc, để giảm ách tắc giao thông nhằm tạo ra một cơ cấu
đô thị “hợp lý”, “đa dạng” “công năng sử dụng hỗn hợp” (mixed use) theo hướng “đa dụng”, và cần có giải pháp ứng xử có hiệu quả với sự “suy thoái về môi trường”. Một thành phố sinh động phải là “một bản liên hợp”.

Chủ nghĩa đô thị có thể tạm gọi là hậu hiện đại phải có một bản sắc địa phương đã được phát triển với quá trình hiện đại hóa. Đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm người và giữa con người với môi trường. Thực ra hậu hiện đại chính là sự hòa trộn giữa các yếu tố hiện đại và hậu hiện đại trong thiết kế tổng thể. Là việc gặp nhau của việc đem các cách thức thiết kế và quản lý hiện đại ra xây dựng các đặc trưng gắn liền với bản sắc địa phương. Điều này có lẽ phù hợp với đô thị, vì theo Charles Jenks “Chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ hỗn hợp mang tính chiết trung của bất cứ truyền thống nào với những gì mới qua: nó vừa là sự kế tục vừa là sự siêu việt hóa chủ nghĩa hiện đại ”. Quy hoạch đô thị hậu hiện đại “chứa đựng các nhu cầu không gian đa dạng” của các bản quy hoạch: Kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, cơ sở hạ tầng trong “sự hợp nhất hài hòa” giữa công bằng xã hội, sống tốt và tính bền vững, hướng tới mục tiêu “pháp triển bền vững” theo phương pháp quy hoạch chiến lược hợp nhất, quy hoạch tích hợp. Hiện có nhiều “mô hình đô thị” theo hướng hậu hiện đại như: Thành phố sinh thái - kinh tế (Eco2 City), thành phố sống tốt (Liveable City), tăng trưởng thông minh (Smart Growth), mô hình TOD (Transit - Oriented Development), chủ nghĩa đô thị mới (New Urbanism), đô thị học cảnh quan (Landscape Urbanism)... Trong thời kỳ BĐKH, thì phải là đô thị sinh thái, đô thị xanh.

Cần sửa đổi Luật Quy hoạch đô thị 2009 cho phù hợp với cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và BĐKH. Hy vọng Quy hoạch đô thị ở nước ta sau 30 năm đổi mới cũng sẽ theo kịp xu thế của thế giới.
* Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị & phát triển hạ tầng Nguyên Giám đốc Dự án quốc gia
“Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý đô thị TPHCM”(VIE/95/051)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Strategic planning_John M Bonfson & Robert Einsaweiler,1987
2. Planning under Pressure- The stategic choice Approach,John Frend &Allen Kickling, 1987
3. Integrated Urban Development- Urban management_UN, 1990
4. Strategic planning for Management Regional growth and Development _ Robert J Stimson, 1992
5. Monitoring and Evaluating Urban Development Programs _Elenor Hewitt, 1992
6. Strategic Issues: What are they and from where do they are?_ Peter Smith Ring, 1992
7. Applying Private Sector Stategic Planning in Public sector_John M Bryson& Wiliam P Roering, 1992
8. Quy hoạch đô thị_Piere Merlin, 1993
9. Đón thế kỷ sắp tới. Bàn về những phát triển học thuật trong quy hoạch đô thị Trung Quốc_Ngô Lương Dung,1994
10. From Master Planning to Stategic Planning _ Gile Clark.1996
11. From Master Planning to Integrated Strategic Planning_ Brian Roberts, 1998
12. Từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chiến lược_VIE/95/051,1998
13. Hướng tới sự tham gia của nhiều thành phần trong quản lý và phát triển đô thị_ VIE/95/051, 1998
14. Đô thị hóa, khủng hoảng sinh thái & phát triển bền vững_ Nhiều Tác giả, Nxb Trẻ năm 2001
15. Khóa tập huấn về quy hoạch và quản lý đất đai_Region Rhône-Alpes (Pháp) & TP HCM (VN), 2006
16. Quy hoạch đô thị đạo lý Châu ÁWilliam.S.W , NXB Xây dựng 2007
17. Kiến trúc sẽ trở thành thứ yếu_Albert Speer,2010
18. Mô hình BĐKH liên kết và Quy hoạch đô thị bền vững – Nghiên cứu tại TPHCM_ Frank Schwartze, Ronald Eckert, Andrens Gravert, Ulrike Schinkel, Ralf Kersten, 2010.
19. Quy hoạch đô thị triển khai thực hiện về quy hoạch phân khu_Pratice Berger,2011
20. Triển khai thực hiện Luật Quy hoạch: đất đai và quy hoạch đô thị_Gautier Rouhet,2011
21. Kinh nghiệm quốc tế trong đổi mới phương pháp quy hoạch đô thị đương đại_Ngô Trung Hải& Lưu Đức Cường, 2011
22. Zonning Plan_Robert van Nouhuys, 2011
23. Suy nghĩ về phát triển đô thị Việt Nam_ Phạm Sỹ Liêm,TC Người Xây Dựng số 1&2 năm 2012.
24. Mô hình biến đổi khí hậu liên kết và quy hoạch đô thị bền vững_Frank Schwartze,Ronald Eckert,Andreas Gavert,Ulrike Schinkel& Ralf Kersten,2010
25. Quy hoạch đô thị thời kỳ hậu hiện đại_ Phó Đức Tùng, Diễn đàn HKTS Quảng Nam,
25/10/2013
26. Đô thị: Chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại_ Trần Quang, Ashui.com, 11/6/2014
27. Những thách thức trong lĩnh vực quy hoạch phát triển ở Việt Nam_ Vũ Quang Các, TC QH ĐT, số 22 năm 2015
28. Quy hoạch phát triển kinh nghiệm của Úc và đề xuất cho Việt Nam_ Lawrie Wilson. TC QH ĐT, số 22 năm 2015
29. Kỷ yếu Hôi thảo “Luật Quy hoạch – hướng tới PTBV và thích ứng BĐKH”, ngày 25/4/2016, tại Hà Nội, Bộ KH ĐT.
30. Đô thị: Chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại_ Trần Quang, Internet 2016
31. Quy hoạch đô thị thời kỳ hậu hiện đại – Phó Đức Tùng, Internet 2016

 

 

 

(Nguồn:Nguyễn Đăng Sơn - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 82))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website