Thực trạng công tác lập QHĐT tại Việt Nam & đề xuất một số định hướng đổi mới

I. Tổng quan thực trạng hệ thống đô thị và công tác lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam Cùng với sự phát triển nhanh về các mặt kinh tế - xã hội, hệ thống đô thị Việt Nam đang phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô dân số đô thị, năm 1990 cả nước có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá khoảng 19,51%), đến năm 1999 làm 604 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá khoảng 23,61%), năm 2009 là 731 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá khoảng 29,6%). Tới thời điểm tháng 12/2015, cả nước có 787 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá khoảng 35,2%), trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 16 đô thị loại I, 24 đô thị loại II, 41 đô thị loại III, 73 đô thị loại IV và 631 đô thị loại V. Đóng góp cho sự phát triển chung có vai trò lớn của công tác Quy hoạch đô thị.

Quy hoạch đô thị đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát triển KT-XH của đất nước. Trong đó, kinh tế đô thị góp khoảng 70%
GDP cả nước, các chỉ số thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả nước. Hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị, kể cả khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng từng bước theo hướng đồng bộ, hiện đại. Nhìn chung, diện mạo kiến trúc đô thị và nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, có bản sắc...

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta cũng cần có các giải pháp để khắc phục có hiệu quả những hạn chế trong thời gian qua như: Chất lượng đô thị hóa của Việt Nam chưa cao; cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng như không gian, kiến trúc đô thị mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng chậm phát triển, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu; tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị có nguy cơ vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương; tình trạng xây dựng chưa ngăn nắp, ùn tắc giao thông ở các đô thị lớn, cung cấp đủ nước sạch, thoát nước và xử lý chất thải, tăng quỹ nhà ở xã hội cho các đối tượng là người có thu nhập thấp, là công nhân, sinh viên chưa được giải quyết thấu đáo...; quy hoạch sử dụng đất đô thị còn chưa thống nhất với quy hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai... Việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới còn chậm. Việc tham gia của cộng đồng trong công tác QHĐT, quản lý xây dựng theo quy hoạch còn mang tính hình thức, hoặc mức độ tham gia còn giản đơn, chưa thấy rõ trách nhiệm, quyền lợi của các bên liên quan trong công tác QHĐT, quản lý phát triển đô thị. Cộng đồng thường là các đối tượng bị động, thiếu các thông tin cần thiết để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi của mình. Đây là một kẽ hở không nhỏ mà quyền lợi cộng đồng bị xâm hại, ảnh hưởng tới tính dân chủ trong quá trình đổi mới Đất nước...

Công tác lập quy hoạch đô thị đã tiếp cận tư duy đổi mới, nhưng triển khai còn chậm (mặc dù những yếu tố mới đã được điều chỉnh tại các bộ Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và các nghị định, thông tư hướng dẫn kèm theo). Chất lượng đồ ánquy hoạch đô thị chưa cao. Phát triển đô thị theo mô hình dự án Khu đô thị mới đã xuất hiện những điểm yếu như thiếu tính tổng thể, không đồng bộ về kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội... Lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, có nguy cơ suy thái chất lượng môi trường, cảnh quan, những vấn đề mới như biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh chưa được lồng ghép thỏa đáng trong quá trình lập quy hoạch.

II. Thực trạng những tồn tại trong công tác lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam
Qua điều tra khảo sát, rà soát công tác lập QHĐT tại 10 thành phố tiêu biểu của Việt Nam gồm: thành phố Hà Nội, TP Hải Phòng, TP Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh), TP Vinh (tỉnh Nghệ An), TP Đà Nẵng, TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắk), TP Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), TP Hồ Chí Minh, TP Cần Thơ, TP Rạch Gía (tỉnh Kiên Giang) sơ bộ tổng kết những tồn tại trong công tác lập QHĐT theo 5 nhóm vấn đề (1)Văn bản pháp quy, (2) Quy trình, (3) Phương pháp, (4) Nội dung, (5) Hồ sơ sản phẩm.

2.1. Tồn tại trong văn bản pháp quy
Các văn bản Luật: Hệ thống Luật về quy hoạch tuy nhiều nhưng chưa đồng bộ và đầy đủ, khó tích hợp vào QHĐT (QHĐT được điều chỉnh tại Luật QHĐT; Quy hoạch xây dựng vùng, các điểm dân cư nông thôn tại Luật Xây dựng; Quy hoạch sử dụng đất tại Luật Đất đai; Đánh giá môi trường chiến lược đồ án quy hoạch tại Luật XD, Luật QHĐT và Luật Bảo vệ môi trường; Quy hoạch du lịch tại Luật Du lịch... Riêng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lại chỉ được điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ). Các Luật còn chồng chéo về quy định lập quy hoạch giữa các ngành (giữa quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội vùng và quy hoạch xây dựng vùng; QHĐT và quy hoạch sử dụng đất về quy định loại đất, quy hoạch bảo tồn của ngành văn hóa với QHXD. Có những nội dung như: Khu chức năng đặc thù nằm trong đô thị, hoặc khu đô thị nằm trong khu chức năng đặc thù thì cùng được điều chỉnh bởi Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị...). Các Bộ Luật còn thiếu các quy định về giám sát việc thực hiện quy hoạch, cơ chế xử lý quy hoạch “treo”.

Nghị đinh, Thông tư: Cũng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ về nội dung, tính pháp lý của QHĐT, vẫn còn chưa cụ thể và trùng lặp (Nghị định 38 và Thông tư 19 lập Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị khó đi vào thực tiễn do nội dung chủ yếu quy định về lĩnh vực Quy hoạch, kiến trúc, trong khi đó thực tiễn đòi hỏi phải có sự quản lý kèm theo của các ngành liên quan khác trong đô thị; Nghị định 37 với Quy định quản lý, Nghị định 38 với Quy chế quản lý đều quy định về quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, vì vậy không nhất thiết phải lập cả hai loại văn bản này; Các yêu cầu về thể hiện đồ án trong Thông
tư 10 (nay là Thông tư 12) còn chung chung, cần quy định chi tiết hơn như quyết định 03 trước đây; Thông tư 01/2013 của Bộ Xây dựng và Thông tư 25/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường không khớp nhau về quy định ĐMC...).

2.2. Tồn tại trong quy trình lập quy hoạch đô thị
Thời gian lập và duyệt QHĐT kéo dài, làm ảnh hưởng đến cơ hội đa tư. Theo Quy trình lập QHĐT gồm: lập Quy hoạch chung, Quy hoạch phân khu, Quy hoạch chi tiết (chưa kể Thiết kế đô thị riêng) với tổng thời gian là 36 tháng (không kể thời gian chờ báo cáo, thẩm định, phê duyệt). Đồng thời trong trường hợp phải điều chỉnh quy hoạch thì chu trình lập lại sẽ tiếp tục kéo dài thời gian chờ đợi. Việc xin ý kiến cộng đồng còn mang tính hình thức và chưa được quan tâm đúng mức. Các văn bản hướng dẫn chưa rõ đối tượng xin ý kiến, hình thức xin ý kiến, không rõ giới hạn đối tượng xin ý kiến ở các loại QHĐT khác nhau. Việc lấy ý kiến cộng đồng ở giai đoạn lập nhiệm vụ QHĐT còn kém hiệu quả, do ở giai đoạn này chưa có nội dung cụ thể để dân góp ý được. Đối với các dự án xây dựng mới hoàn toàn trên các khu đất chuyển đổi từ đất nông nghiệp chưa có hướng dẫn cụ thể lấy ý kiến cộng đồng là những đối tượng nào.

Hiện nay trong quy trình còn tồn tại nhiều loại QHĐT nên mất nhiều thời gian cho công tác lập và phê duyệt, trong khi đó nội dung của các loại quy hoạch này theo từng cấp độ lại có nhiều điểm trùng lặp có thể lược bớt (trong đồ án quy hoạch chung cũng có phân khu nênkhông nhất thiết phải lập quy hoạch phân khu mà nên tích hợp luôn vào đồ án quy hoạch chung. Nội dung lập quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị riêng có nhiều điểm trùng nhau, vì vậy không nhất thiết phải lập cả hai đồ án này).

Việc công bố QHĐT chưa được thực hiện đầy đủ, kịp thời, khiến các doanh nghiệp, nhà đầu tư và công dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nghiên cứu và khai thác các quy hoạch. Việc tổ chức thực hiện quy hoạch còn hạn chế một phần do các nguồn lực không đủ, một phần do các nguyên nhân khác.

2.3. Tồn tại trong phương pháp lập quy hoạch đô thị
Phương pháp lập QHĐT hiện là phương pháp quy hoạch số học, nặng về các chỉ tiêu, chỉ phù hợp với nền kinh tế bao cấp chứ không phù hợp với kinh tế thị trường, không bám sát nhu cầu thực tế nên thiếu tính khả thi và phải điều chỉnh liên tục, không xóa “treo” được. Phương pháp lập QHĐT mang nhiều cảm tính, làm theo chủ trương, chỉ đạo, thiếu công cụ lập quy hoạch mang tính khoa học, logic. Thiếu các công cụ trong việc đánh giá hiện trạng và dự báo phát triển.Thiếu tính chiến lược và toàn diện trong nghiên cứu. Việc tính toán quy mô theo sức chứa đã trở nên lạc hậu. Việc lập QHĐT chỉ đơn thuần về không gian và sử dụng đất. Chưa nghiên cứu những vấn đề liên quan như:tác động của quy hoạch đến đời sống xã hội nhất là tầng lớp thu thập thấp, kinh tế đô thị, tài chính đô thị, biến đổi khí hậu… là những yêu cầu thực tiễn của đồ án QHĐT nhưng chưa được nghiên cứu, tính toán đầy đủ. Tính tích hợp và sử dụng kết quả của các quy hoạch ngành khác vào quy hoạch đô thị còn rất hạn chế. Chưa có phương pháp tích hợp hữu hiệu. Cách tiếp cận còn nặng từ trên xuống, mang tính áp đặt. Các quy hoạch gia sử dụng phương pháp hai chiều về quy hoạch phát triển đất đai, thuần túy coi đây là vấn đề phân vùng, các mạng lưới và dự báo. Trong khi cần sự hiểu biết kỹ lưỡng hơn về thị trường bất động sản và tính chất đa chiều của tài nguyên đất.

2.4. Tồn tại trong nội dung lập quy hoạch đô thị
Quy hoạch chung: Thiếu tầm nhìn và tính chiến lược trong định hướng lập quy hoạch chung đô thị. Nội dung dự báo còn nhiều bất cập do thiếu các công cụ dự báo hiện đại dẫn đến quy hoạch có tầm nhìn ngắn hạn, mang nhiều tính chủ quan, áp đặt, mong muốn hơn là dựa trên các cơ sở khoa học vững chắc. Mức độ lập quy hoạch chung còn chưa được quy định cụ thể, nhiều quy hoạch chung lập như quy hoạch phân khu. Còn một khoảng cách lớn giữa định hướng và thực tế khi triển khai quy hoạch được duyệt do thiếu cơ chế chính sách chuyển hoá quy hoạch thành các chương trình kế hoạch thực thi phù hợp với thực tế phát triển của địa phương dẫn đến nhiều quy hoạch vẫn “treo” sau khi được duyệt. Quy hoạch theo tầng bậc đã trở nên khô cứng thiếu linh hoạt nên nguy cơ vỡ quy hoạch khi thay đổi về kinh tế - xã hội, mục tiêu, quá trình quản lý vận hành dẫn đến điều chỉnh nhiều lần. Nội dung đánh giá môi trường chiến lược còn chưa cụ thể, thiếu nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quy hoạch phân khu: Quy hoạch phân khu cần được triển khai để điều tiết sử dụng đất, kết nối hạ tầng cơ sở, nhưng thiếu hoặc chưa thể hiện vai trò hoặc không tách bạch được với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (thực hiện theo Luật Đất đai) dẫn đến những khó khăn trong quản lý đầu tư, giao đất, cho thuêđất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất vào mục đích phát triển đô thị. Mức độ lậpquy hoạch phân khu còn chưa được quy định cụ thể, nhiều QHPK lập như QHC hoặc QHCT. Quy định chức năng khu đất, lô đất còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt trong các chức năng công trình cấp đô thị.cập, thiếu tính linh hoạt, khó khăn trong công tác cấp phép, nhất là các khu vực đô thị hiện hữu. Nội dung thiết kế đô thị lồng ghép trong đồ án quy hoạch phân khu khá chi tiết, cụ thể, nhưng việc thực hiện chưa đạt yêu cầu dẫn đến tình trạng làm cho đủ kém hiệu quả. Quy hoạch chi tiết: Quy hoạch chi tiết tại các quận, phường, các khu có chức năng đặc thù chưa đảm bảo nội dung thiết kế đô thị, sơ sài, chưa đủ cơ sở để xây dựng quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan đô
thị. Bên cạnh đó, quy hoạch chi tiết 1/500 thường xuyên được điểu chỉnh theo hướng tăng diện tích kinh doanh, giảm diện tích công trình hạ tầng kỹ thuật – xã hội và cây xanh dẫn đến dự án khi thực hiện không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng, thiếu trầm trọng diện tích cây xanh, mặt nước, công viên và các công trình phúc lợi công cộng. Đánh giá tác động xã hội cần được làm rõ trong nội dung đồ án và phải coi đây là một thành phần bắt buộc trong nội dung của đồ án quy hoạch đô thị.

2.5. Tồn tại trong hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị
Hồ sơ bản vẽ QHĐT còn cồng kềnh bởi các bản vẽ thiết kế cụ thể chi tiết nhưng không có tính thực tiễn cao.QHC và QHPK chủ yếu sử dụng hai bản đồ là sử dụng đất và giao thông, các bản vẽ về hạ tầng kỹ thuật ít được sử dụng, hiệu quả không cao. Tại một số địa phương,bản vẽ về đánh giá môi trường được sử dụng. Bản vẽ tổng mặt bằng sử dụng đất được sử dụng nhiều tuy nhiên ký hiệu các loại đất chưa thống nhất với bản vẽ quy hoạch sử dụng đất của ngành tài nguyên, môi trường. Có ý kiến cho rằng bản vẽ tổng hợp đường dây đường ống chỉ nên quy định ở quy hoạch chi tiết. Hồ sơ thiết kế đô thị còn khó khăn trong thực hiện.

Quy hoạch chi tiết 1/500 là cơ sở để lập Thiết kế cơ sở, Lập dự án, thiết kế thi công, nên một số ý kiến cho rằng không nhất thiết phải lập đủ các bản vẽ hạ tầng kỹ thuật, chỉ cần bản vẽ giao thông và san nền. Thiếu các hướng dẫn cụ thể về mức độ nghiên cứu và mức độ thể hiện bản vẽ theo từng loại quy hoạch đô thị. Cần rút gọn, đơn giản hóa hồ sơ bản vẽ để xây dựng lộ trình thẩm định phê duyệt bằng hồ sơ mềm, kết hợp chuẩn hóa số lượng hồ sơ các loại đồ án và được quản lý bằng phần mềm quản lý. Công tác này cần được duy trì đều đặn nhằm nâng cao công tác quản lý đô thị theo hướng hiện đại. Sản phẩm của quy hoạch đô thị cần hướng tới trở thành những bản đồ hoặc sơ đồ định hướng và những kèm theo đó là những thuyết minh thay vì đưa ra những bản vẽ thiết kế cụ thể chi tiết nhưng không có tính thực tiễn cao.

III. Đề xuất một số định hướng đổi mới công tác lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam
3.1. Các yêu cầu đối với đổi mới công tác lập quy hoạch đô thị.
1. Cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí, thứ tự tầng bậc và mối quan hệ giữa QHĐT và các quy hoạch ngành. Từ đó đề xuất các phương pháp QHĐT mới có thể lồng ghép, hợp nhất các quy hoạch ngành.

2. Phù hợp với nền kinh tế thị trường, đáp ứng được số đông cư dân đô thị, đặc biệt là tại các đô thị nghèo và các đô thị tồn tại nhiều hình thức phi chính quy.

3. Tạo ra những sản phẩm quy hoạch bền vững, xem xét đầy đủ các vấn đề như cạnh tranh đô thi, kinh tế, tài chính đô thị, môi trường đô thị, bảo tồn và tái thiết đô thị, biến đổi khí hậu, công bằng xã hội…

4. Thay đổi cách tiếp cận còn nặng từ trên xuống, mang tính áp đặt, phải tương thích với quá trình thay đổi thể chế và cải cách hệ thống quản trị của chính quyền đô thị. Không được nằm ngoài xu thế cải cách hành chính của quốc gia, phải hướng tới quá trình ngày càng mở trong ra quyết định công với sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan và công chúng.

5. Hướng tới giảm chi phí ngân sách nhà nước cho công tác lập quy hoạch đô thị, rút ngắn quy trình, thời gian lập và thẩm định phê duyệt, cải thiện công tác quản lý nhà nước theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, tạo điều kiện cho chủ đầu tư sớm thực hiện các dự án đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý vĩ mô và hoạch định chính sách.

3.2. Định hướng đổi mới công tác lập quy hoạch đô thị.
a. Định hướng đổi mới phương pháp.
1. Phương pháp lập QHĐT phải đảm bảo được tính thiết thực trong việc tham gia của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư đối với QHĐT. Các mục tiêu của quy hoạch phải thật rõ ràng và dễ hiểu với tất cả các chủ thể thuộc khối nhà nước cũng như với các đối tác tư nhân. Quá trình đối thoại ở cấp đô thịcũng được coi là công việc quan trọng không kém gì so với chính nội dung đồ án. Các mục tiêu của đồ án phải được đưa vào một chiến dịch truyền thông đối với những đối tượng sẽ thực hiện đồ án đó.

2. Phương pháp lập QHĐT theo hướng tiếp cận đa ngành, đảm bảo được sự tích hợp các đồ án quy hoạch ngành vào đồ án QHĐT bằng việc xây dựng bộ công cụ chuyển hóa nội dung của quy hoạch ngành vào QHĐT.

3. Xây dựng được bộ công cụ đánh giá hiện trạng mang tích logic khoa học với kết quả mang tính định lượng cao. Xây dựng phương pháp dự báo phát triển mang tính toàn diện, đầy đủ các công cụ nghiên cứu phân tích.

4. Phương pháp lập quy hoạch theo hướng “Quy hoạch linh hoạt”, “Quy hoạch hành động”, “Quy hoạch mềm” nhằm làm rõ những nội dung cần phải thực hiện, lộ trình thực hiện, ứng phó hiệu quả với các biến động về kinh tế - xã hội. Đặc biệt phải đảm bảo tính chiến lược cho QHC, tránh tình trạng khi triển khai QHPK lại bất cập và lại điều chỉnh QHC.
b. Định hướng đổi mới về quy trình, nội dung
1. Về quy trình: Cần rút ngắn quy trình theo hướng giảm bớt loại quy hoạch đô thị bằng cách tích hợp tối đa các cấp độ lập quy hoạch đô thị. Hoặc xây dựng quy trình hai bước như một số nước phát triển: Quy hoạch chiến lược và quy hoạch hành động.

2. Về nội dung:Nội dung QHĐT phải đảm bảo tính chiến lược, có tầm nhìn nhưng cũng phải sát nhu cầu, năng lực thật sự của đô thị, tránh dàn trải. Xác định được rõ nguồn lực thật sự theo quan điểm thị trường, dựa trên lợi ích của dân, hài hòa lợi ích của người dân -  nhà đầu tư và Nhà nước. Theo đó nội dung QHĐT phải phân định rõ vùng nào để phát triển đô thị theo hướng nén, tập trung; vùng nào dự trữ phát triển; vùng nào là đất nông nghiệp thì khoanh vùng lại và phải bảo vệ đất nông nghiệp đó, không cho phát triển tràn lan. Đến khi đô thị phát triển hết đất khu vực phát triển đô thị, có điều kiện để phát triển hạ tầng đến khu dự trữ, khu đất nông nghiệp thì mới tiếp tục quy hoạch ở khu đất nông nghiệp đã khoanh. Trên cơ sở định hướng nêu trên sơ bộ đề xuất mô hình đổi mới quy trình và nội dung lập quy hoạch đô thị.Theo sơ đồ hình bên.


 

c. Định hướng đổi mới về sản phẩm quy hoạch
1. Khắc phục được tính xơ cứng của sản phẩm quy hoạch đô thị hiện nay, đảm bảo đủ linh hoạt để có thể đáp ứng các thay đổi của thực tiễn, tránh tình trạng thường xuyên điều chỉnh, giảm thiểu thời gian lập quy hoạch.

2. Sản phẩm của quy hoạch đô thị cần trở thành những bản đồ hoặc sơ đồ định hướng tích hợp đa ngành và những kèm theo đó là những thuyết minh được giải trình cụ thể, chi tiết nội dung và cách thức thực hiện đồ án thay vì đưa ra những bản vẽ thiết kế cụ thể chi tiết
nhưng không có tính thực tiễn cao như hiện nay.

3. Hồ sơ, sản phẩm hướng tới giảm thiểu tính đơn năng, tăng cường tính đa năng trong phân bố các không gian, quy hoạch sử dụng đất của đô thị. Rút gọn, đơn giản các bản vẽ ở quy hoạch cấp cao (cấp chiến lược), đồng thời tăng cường nội dung chi tiết cho các bản vẽ ở quy hoạch cấp thấp (cấp hành động, hay còn gọi là dự án đầu tư). Quy định rõ mức độ nghiên cứu và thể hiện bản đồ ở mỗi loại hình QHĐT.

4. Xây dựng lộ trình thẩm định phê duyệt bằng hồ sơ mềm kết hợp chuẩn hóa số lượng hồ sơ các loại đồ án và được quản lý bằng phần mềm theo hướng hiện đại.

Lời kết
Việt Nam đang ở thời điểm quan trọng của quá trình đô thị hoá, lựa chọn đúng đắn chiến lược phát triển đô thị quốc gia sẽ tránh được những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa - kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng. Sự chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại trong giai đoạn tới không thể thiếu việc xây dựng chiến lược, kế hoạch cho quá trình đô thị hóa. Trong quá trình này công tác quy hoạch đô thị sẽ là một phần quan trọng trong việc hoạch định tương lai của hệ thống đô thị Việt Nam. Vì vậy, việc nhìn nhận lại thực trạng công tác lập quy hoạch đô thị để xác định định hướng đổi mới là công việc quan trọng và cần làm ngay. Đây cũng sẽ trở thành một phần công việc cần thiết trong chiến lược phát triển đô thị của Việt Nam để đảm bảo có thành phố đáng sống, sống tốt và có khả năng cạnh tranh trong khu vực cũng như trên toàn cầu.

* Phó Viện trưởng- Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia.
** Trưởng phòng NCCL và CSPTĐT.

Tài liệu tham khảo:
(1) Cao Sỹ Niêm và nhóm chuyên gia VIUP: Báo cáo Điều tra, khảo sát, rà soát thực trạng công tác lập quy hoạch đô thị về phương pháp lập, quy trình, nội dung và sản phẩm tại 10 đô thị tiêu biểu của Việt Nam: thành phố Hà Nội, TP Hải Phòng, TP Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh), TP Vinh (tỉnh Nghệ An), TP Đà Nẵng, TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắk), TP Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), TP Hồ Chí Minh, TP Cần Thơ, TP Rạch Gía (tỉnh Kiên Giang) phục vụ nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước Mã số:ĐTĐL-CN.24/15về “Nghiên cứu đổi mới toàn diện công tác lập quy hoạch đô thị tại
Việt Nam
(2) PGS.TS Vũ Thị Vinh, TS. Trương Văn Quảng. KTS Phạm Thị Nhâm: Đánh giá thực trạng đô thị Việt Nam thông qua kết quả điều tra, đánh giá theo các lĩnh vực lựa chọn
(3) Kỷ yếu hội thảo đề tài nghiên cứu khoa học

 

(Nguồn:PGS.TS.KTS. Lưu Đức Cường - ThS.KTS. Cao Sỹ Niêm - Tạp chí quy hoạch (số 82))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website