Gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan

Mở đầu Tại các đô thị tại Việt Nam nói chung, quá trình phát triển mở rộng đô thị đã nảy sinh nhiều vấn đề trong quy hoạch và quản lý sử dụng đất đai được chuyển đổi từ đất đai nông nghiệp thành đất đai đô thị. Dưới áp lực của phát triển kinh tế đô thị, các phát triển đôi khi thiếu sự gắn kết, sử dụng hiệu quả với các chức năng đất đai hiện có. Thậm chí, nhiều khu vực còn nảy sinh sự bất cập trong sử dụng đất đai để phân bố các hoạt động chức năng trong đô thị.

Những mâu thuẫn tồn tại được nhìn nhận chủ yếu là việc thiếu gắn kết các phát triển chức năng đô thị mới với các đặc điểm hiện hữu tại các khu vực làng xóm nông nghiệp. Mặc dù, đã có nhiều quy hoạch cho thành phố Hà Nội, các định hướng từ quy hoạch tổng thể chuyển hoá tới các quy hoạch chi tiết còn nhiều lúng túng. Thực tế hiện nay, các đồ án quy hoạch chi tiết chủ yếu chỉ được thực hiện trong phạm vi ranh giới giao đất mà thiếu sự cập nhật, trao đổi thông tin với những không gian lân cận. Hệ quả là sự phát triển lệch, thiếu khớp nối, đồng bộ về kiến trúc cảnh quan giữa những đặc trưng không gian khác nhau. Thực tế này, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết tạo tạo lập bộ mặt đô thị “Xanh - Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” của Thủ đô.

1.Đặc điểm mở rộng của khu vực ven đô Hà Nội

Sự mở rộng của thành phố Hà Nội cũng có nhiều nét tương đồng với các đô thị khác tại các nước kinh tế đang phát triển, quá trình đô thị hoá diễn ra chậm vào những năm đầu của thế kỉ 20 và diễn ra mạnh mẽ ở nửa sau thế kỷ 20 với sự gia tăng dân số chóng mặt và sự mở rộng lãnh thổ trở thành những siêu đô thị. Quá trình mở rộng mạnh mẽ này thường gắn với 2 biểu hiện cơ bản: 1) thiết lập các phát triển đô thị mới ra vùng ngoại vi; và 2) gia tăng dân số và biến đổi cấu trúc tại các khu dân cư làng xóm lân cận đô thị. Sự mở rộng đô thị thường chịu chi phối từ các chính sách hoặc bởi các nhà đầu tư hình thành nên những khu vực phát triển mới cách xa đô thị hiện có và xen trộn với các không gian làng xóm. Cấu trúc không gian đô thị hình thành ở dạng nhảy cóc. Tính kết nối với hoạt động đô thị trong các làng xóm đô thị hoá bị đứt đoạn, các khu vực biên của làng xóm biến đổi đồng hoá với đặc điểm không gian đô thị, ngăn cách, che dấu và làm trầm trọng thêm môi trường sống tại các khu vực bên trong.

Về lịch sử, với hơn 1000 năm hình thành, đô thị và nông thôn luôn là 2 thái cực chính tác động tới sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Bởi các biểu hiện hình thành, biến đổi của các điểm quần cư nông thôn - đô thị, quá trình phát triển đô thị Hà Nội được phân định theo 3 thời kì: Thời kì Phong kiến; Thời kì Pháp thuộc; Thời kì Thống nhất và phát triển đất nước. Qua đánh giá lịch sử hình thành phát triển đô thị Hà Nội cho thấy xu hướng tiếp tục mở rộng của đô thị, đồng thời cho thấy rõ rệt việc chuyển hóa vào cấu trúc đô thị của các làng xóm còn mang tính tự phát, thiếu gắn kết giữa khu đô thị mới với các điểm quần cư hiện hữu. Trong lĩnh vực Quy hoạch xây dựng, các đồ án được lập cho thấy sự mở rộng liên tục của đô thị Hà Nội, tuy nhiên bản chất vẫn là sự quan tâm tới kiểm soát hoạt động và không gian giữa hai yếu tố đô thị và nông thôn, giữa “bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống” và “những phát triển theo chức năng đô thị”.

Sự chuyển hóa vào cấu trúc đô thị của các làng xóm nông nghiệp ven đô thông qua các biểu hiện đặc điểm về: i)Biến đổi về mục đích sử dụng đất; ii) Chuyển đổi nghề nghiệp; iii) Đặc điểm hoạt động kinh tế hộ gia đình; iv) Phân mảnh và chia nhỏ diện tích xây dựng; v) Xuất hiện hạ tầng xã hội mới; vi) Xuất hiện xung đột giao thông.

Trong khi đó, xu hướng hình thành các khu đô thị mới đang có những đặc điểm: i) Đô thị mới tiếp tục phát triển trong giai đoạn đến 2030; ii) Khu đô thị mới thường ít kết nối với làng xóm xung quanh; iii) Có nhiều chuyển biến tại các khu vực cạnh biên khu đô thị; iv) Ít chú trọng tới chức năng công cộng, dịch vụ.

2.Những tồn tại bất cập về gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan giữa làng xóm đô thị hóa với các khu đô thị mới

Các nhận định về quá trình đô thị hóa, sự phát triển các khu đô thị mới và sự chuyển hóa của làng xóm đô thị hóa đã đặt ra những yêu cầu về kiểm soát không gian kiến trúc cảnh quan nhằm giảm thiểu sự phân tách, xung đột về quyền lợi sử dụng, quản lý xây dựng. Tổng quan chung cho thấy, không gian tại khu vực giáp ranh giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa đang cho thấy những biểu hiện phân tách về:

a) Hoạt động kinh tế - xã hội và môi trường tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới đặc điểm thiếu gắn kết của không gian. Sự biến đổi trong hoạt động kinh tế hộ gia đình, chuyển đổi nghề nghiệp dẫn tới mâu thuẫn, tranh chấp sử dụng không gian, lấn chiếm và sử dụng đa dạng hoạt động trong không gian. Bên cạnh đó, sự liên cận giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa mang tới những biểu hiện phân hóa dân cư, gia tăng tính đa dạng, phức tạp của nhiều cộng đồng dân cư. Hậu quả của sự biến đổi kinh tế - xã hội là sự biến mất dần những không gian sinh thái tự nhiên, thu hẹp hoặc chuyển đổi sang những mục đích sử dụng khác nhau.

b) Về thực trạng biến động các chức năng đô thị. Đất xây dựng nhà ở được tận dụng và chiếm dụng tối đa, chức năng công trình (nhà ở) biến đổi liên tục, đồng thời có biểu hiện ít tuân thủ các quy định về chiều cao, khoảng lùi xây dựng công trình. Đất công cộng và dịch vụ đa phần là phát triển lộn xộn và thiếu đồng bộ giữa 2 bên bởi sự hạn chế về quỹ đất có thể thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đất đường và bãi đỗ xe mới chỉ đáp ứng ở mức tối thiểu và chỉ tính toán thiết kế cho khu đô thị mới.

c) Về không gian kiến trúc cảnh quan, các biểu hiện về sự thiếu gắn kết là rõ rệt như là hệ quả của những biến đổi về kinh tế -xã hội, và cơ cấu chức năng đất đai đô thị. Những đặc điểm chính về sự thiếu gắn kết giữa 2 không gian có thể thấy, gồm:

- Thiếu kết nối giao thông giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hoá được biểu hiện ở các đặc điểm: i) Sự bất cập và tính kết nối đồng bộ giữa khu đô thi mới và làng xóm đô thị hóa dẫn tới sự mất ổn định của hoạt động đi lại, ảnh hưởng tới phân bố các công trình; ii) Thiếu bổ sung các điểm giao thông tĩnh, các giao cắt không hợp lý ảnh hưởng tới tâm lý sử dụng và mỹ quan đô thị.

- Tương phản về kiến trúc và công trình xây dựng là biểu hiện rõ rệt về sự đứt đoạn không gian, bao gồm: i) Tương phản về khối tích xây dựng tạo cảm giác mất cân bằng, khó định hình các tuyến không gian; ii) Tương phản về mật độ tập trung công trình bởi sự biến động liên tục về tách hợp thửa trong các khu vực làng xóm đô thị hóa; iii) Tương phản về các ngôn ngữ biểu hiện của kiến trúc công trình, gián tiếp phản ánh sự đứt đoạn về lịch sử hình thành không gian.

- Thiếu sống động trong không gian công cộng được nhìn nhận ở những biểu hiện: i) Sự phát triển bành trướng của các hoạt động thương mại làm hạn hẹp quỹ không gian sử dụng công cộng; ii) Tư nhân hóa không gian là hình thái chủ đạo với việc lạm dụng, chiếm dụng sử dụng không gian mở cho các nhu cầu riêng.

- Chất lượng cảnh quan xuống cấp. Trong nhiều khu vực giáp ranh không có tổ chức tuyến giao thông phân cách mà được xây dựng các dãy nhà quay lưng, áp sát với khu dân cư làng xóm hiện có xuất phải bởi sự tận dụng quỹ đất được giao cho xây dựng đô thị mới tạo ra một môi trường xây dựng lộn xộn, thiếu rõ ràng về các vùng không gian đặc trưng. Trong một số khu vực không gian bị biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Những biểu hiện tiêu cực có thể thấy ở việc hình thành những nhà tạm, lấn chiếm không gian giáp ranh với khu đô thị mới, hoặc ở những biểu hiện chia nhỏ không gian hơn, bố trí các biển quảng cáo, mai che, xâm lấn ra những không gian công cộng để tối đa không gian thương mại, không gian cho thuê. Cùng với đó là các tổ chức cảnh quan và trang thiết bị đô thị không đồng đều ở hai bên của không gian giáp ranh. Việc sử dụng cây xanh, chủng loại và màu sắc cho thấy sự khác biệt đối lập. Trong một số khu vực, bên phía dân cư làng xóm đô thị hoá thậm chí không có cả cây xanh là hệ quả của việc mở tuyến giao thông và việc xây dựng tiến sát mặt đường.

Từ các khái quát về thực trạng gắn kết giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa, không gian có biểu hiện phân tác được phân loại gồm:

- Không gian phân tách “mềm”

- Không gian phân tách “cứng”

- Không gian đan xen, hỗn hợp

3. Nghiên cứu giải pháp tổ chức gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan giữa làng xóm đô thị hóa và khu đô thị mới.

Đô thị hóa là tất yếu của phát triển đô thị. Đồng nghĩa với đó là sự chuyển đổi “tiến lại” gần nhau hơn của đô thị - nông thôn, mà biểu hiện tiêu biểu nghiên cứu ở đây là làng xóm ven đô và khu đô thị mới. Do đó vấn đề về phát triển đô thị bền vững là yếu tố quyết định trong khía cạnh gắn kết không gian, gồm: i) Gắn kết không gian với phát triển kinh tế (địa phương); ii) Gắn kết không gian với tổ chức xã hội; iii) Gắn kết không gian nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường. Trong những trào lưu và xu hướng quy hoạch hiện đại, việc gắn kết không gian là những nghiên cứu nổi bật, thậm chí tác động vào những quan niệm về quy hoạch truyền thống như biến đổi về các mô hình đơn vị ở (TOD, TND, Livable City, Compact city…), các lý luận về chủ nghĩa đô thị mới hay trong các nghiên cứu cụ thể về tổ chức không gian đô thị trên cơ sở 3 yếu tố cơ bản gồm: Thẩm mỹ, Công năng và Thời gian. Thực tiễn cũng đã chứng minh các xu hướng biến đổi thích nghi và hòa hợp không gian của làng xóm đô thị hóa với khu đô thị mới từ các nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế. Nổi bật trong đó là những bài học về: i) sự đồng thuận của cộng đồng; ii) định hướng chính sách tổng thể; iii) khai thác thế mạnh kinh tế địa phương và đặc tính của cộng đồng dân cư.

Khu vực nội đô mở rộng và các chuỗi đô thị phát triển tại thành phố Hà Nội là khu vực được xác định là địa điểm tập trung dân cư chủ yếu của phát triển đô thị, đồng nghĩa với việc phát triển các khu đô thị mới song song với cải tạo chuyển đổi cấu trúc của các làng xóm hiện có. Do vậy, việc tổ chức gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan được làm rõ hơn về:

Thứ nhất, quan điểm tổ chức gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan phải đảm bảo: i) Phát huy được nội lực kinh tế địa phương; ii) Nâng cao chất lượng sống, bình đẳng giữa các cộng đồng dân cư; iii) Hài hoà với điều kiện môi trường tự nhiên; iv) Gắn kết các nhân tố tạo lập không gian (gồm thẩm mỹ, công năng, thời gian).

Thứ hai, tổ chức gắn kết không gian kiến trúc cảnh quan cần đảm bảo các nguyên tắc: i) Nhất quán với các quy hoạch xây dựng tổng thể; ii) Phù hợp với mục tiêu phát triển; iii) Đa dạng và tương hỗ trong phân bố chức năng; iv) Giàu bản sắc trong hình thái không gian kiến trúc - cảnh quan; v) Linh hoạt trong các chỉ tiêu sử dụng đất và kiểm soát đầu tư.

Thứ ba, nhận diện đặc trưng của không gian gắn kết cho thấy tính độc lập tương đối về không gian, đồng thời cho thấy vai trò trọng tâm trong liên kết, gắn kết hoạt động và thiết lập rõ rệt vùng hoat động của đơn vị ở (mới) có tính đặc thù của khu vực mở rộng đô thị Hà Nội. Các đặc trưng gồm: i) Giới hạn gắn kết không gian; ii) Vai trò của không gian gắn kết; iii) tính chất của không gian gắn kết; và iv) Chức năng trong không gian gắn kết gồm nhóm chức năng bổ sung hoàn chỉnh cấu trúc đô thị và nhóm chức năng bố trí tạo động lực phát triển.

Thứ 4, từ các đặc điểm hiện trạng phân tách không gian và từ những nhận diện đặc trưng không gian gắn kết, 3 biểu hiện không gian cần gắn kết được phân loại gồm: i)

Không gian gắn kết mềm: Áp dụng nghiên cứu tại các phân khu đô thị thuộc chuỗi đô thị phía Đông đường vành đai 4 và phía Bắc sông Hồng

Không gian gắn kết cứng: Áp dụng tại các phân khu đô thị thuộc khu vực nội đô mở rộng.

Không gian gắn kết đan xen, hỗn hợp: Áp dụng tại các phân khu đô thị thuộc khu vực nội đô mở rộng.

Từ các kết quả nghiên cứu và lấy ý kiến cộng đồng được trình bày tại phần trên, mô hình tổng quát và các mô hình áp dụng về tổ chức gắn kết không gian kiến trúc canh quan giữa làng xóm đô thị hóa và khu đô thị mới bao gồm:

Mô hình tổng quát, Hạt nhân gắn kết được hình thành trên cơ sở phát triển, bổ sung hạ tầng xã hội, được kết hợp với tổ chức không gian mở, nút giao đi bộ.

Vùng không gian gắn kết chuyển tiếp giữa cảnh quan làng xóm đô thị hóa và khu đô thị mới, khai thác chủ yếu về các chức năng thương mại dịch vụ phù hợp với tập quán và chuyển đổi nghề nghiệp.

Hình thái gắn kết chú trọng vào sự hài hoà về kiến trúc công trình, khai thác các đặc trưng tập quán hiện có tạo lập không gian chuyên đề, mang bản sắc riêng.

Một số giải pháp tổ chức gắn kết được đề xuất gồm:

Giải pháp 1. Cơ cấu phân bố chức năng

Nhóm chức năng bổ sung hoàn chỉnh cấu trúc đô thị, bố trí phù hợp với tiêu chí: 1) Cân đối quỹ đất với nhu cầu sử dụng; 2) Khai thác bảo vệ các đặc trưng hiện có; 3) Có vai trò tạo trọng tâm gắn kết; 4) Đảm bảo phạm vi phục vụ; 5) Cấu thành liên kết giao thông.

Nhóm chức năng tạo động lực phát triển, bố trí phù hợp với tiêu chí về: 1) Đảm bảo khả năng phát triển kinh tế khu vực, tạo nguồn tài chính cho đầu tư xây dựng ; 2) Phù hợp với đặc điểm tập quán, lối sống của các tổ chức xã hội; 3) Cân đối quỹ đất với nhu cầu sử dụng; 4) Đảm bảo công năng sử dụng đa dạng; 5) Có vai trò tạo trọng tâm gắn kết; 6) Cấu thành liên kết giao thông; 7) An toàn trong sử dụng

a) Áp dụng giải pháp vào tổ chức không gian gắn kết mềm: Nhóm chức năng bổ sung hoàn thiện cấu trúc đô thị được xác định phân bố ở cấp độ khu vực, hoàn thiện cấu trúc đô thị của làng xóm. Nhóm chức năng tạo động lực phát triển gồm thương mại - dịch vụ, sản xuất, nhà ở hỗn hợp được phân bố tại những địa điểm có thuận lợi về không gian và khả năng tiếp cận. Các tuyến đường giao thông được thiết lập bổ trợ, tạo lợi thế về địa điểm cho những chức năng thương mại dịch vụ.

b) Áp dụng giải pháp vào tổ chức không gian gắn kết cứng: Nhóm chức năng bổ sung hoàn thiện cấu trúc đô thị là một số công trình hạ tầng xã hội ở quy mô cấp khu vực. Các khu vực cây xanh sân chơi được bổ sung theo cấp nhóm ở và khai thác các không gian mở của công trình cao tầng khu đô thị mới. Nhóm chức năng tạo động lực phát triển gồm thương mại dịch vụ, nhà ở hỗn hợp được tạo điều kiện phát triển trên cơ sở hiện có. Cải thiện, tăng cường hiệu quả quỹ đất giao thông hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.

c) Áp dụng giải pháp vào tổ chức không gian gắn kết hỗn hợp: Nhóm chức năng bổ sung hoàn thiện cấu trúc đô thị chủ yếu là công cộng cấp nhóm ở. Chức năng cây xanh được phân tán sử dụng kết hợp trong các chức năng khác. Nhóm chức năng tạo động lực phát triển chủ yếu là thương mại dịch vụ, nhà ở hỗn hợp cải tạo, tái thiết trên cơ sở hiện có. Mở rộng hợp lý quỹ đất giao thông hỗ trợ phát triển kinh tế khu vực

Giải pháp 2. Tổ chức mạng lưới kết nối giao thông

a) Cấu trúc mạng lưới kết nối giao thông khép kín và liên hoàn, bao gồm các hành động: i) Đa dạng hóa các cấp độ đường giao thông; ii) Đa dạng và kiểm soát các loại hình phương tiện giao thông; iii) Mở rộng cải tạo ngõ, đường nhánh tiếp cận tới tuyến trục chính.

b) Phát triển tuyến giao thông tốc độ thấp, bao gồm các hành động: i) Hạn chế hoặc khống chế có thời hạn phương tiện cơ giới.; ii) Phù hợp và khuyến khích tạo lập môi trường thương mại dịch vụ; iii) Kết hợp kiến trúc cảnh quan tạo lập hình ảnh đặc trưng

c) Áp dụng giải pháp vào các dạng không gian gắn kết

- Không gian gắn kết mềm: 1) Mạng khép kín phát triển từ trục liên kết trực tiếp giữa hai khu vực, chú trọng bố trí các điểm dừng xe đảm bảo quy mô dân số toàn khu vực; 2) Tuyến giao thông tốc độ thấp gắn trên trục liên kết chính thông qua việc phân làn cứng xe ô tô, mở rộng vỉa hè, thu hẹp lòng đường, khống chế cảnh quan kiến trúc.

- Không gian gắn kết cứng: 1) Mạng khép kín được phát triển từ trục phân tách khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa với mạng lưới đường hiện có, mở rộng sử dụng kết hợp hợp lý nhiều điểm dừng đỗ xe trong không gian mở, công trình công cộng, tạo lập không gian đấu mối giao thông; 2) Tuyến giao thông tốc độ thấp được xác lập bởi các thiết kế cải tạo không gian vỉa hè dọc tuyến giao thông đô thị kết hợp với không gian mở, khống chế khối tích xây dựng.

- Không gian gắn kết hỗn hợp: 1) Mạng giao thông khép kín hình thành trên cơ sở cải tạo mở rộng mạng lưới đường hiện có, cho phép đa dạng phương tiện giao thông; 2) Tuyến giao thông tốc độ thấp hình thành độc lập gần về phía làng xóm đô thị hóa, hạn chế phương tiện giao thông cơ giới, mặt cắt hạn chế tạo lập khác cốt, kết hợp với các đặc điểm cảnh quan kiến trúc bản địa.

Giải pháp 3. Kiểm soát kiến trúc công trình

a) Thiết lập chuyển tiếp về chiều cao xây dựng, Đối với Tuyến cắt ngang, 1) Nâng tầng các công trình phía làng xóm mở rộng; 2) Hạn chế xây dựng công trình quá cao bên phía khu đô thị mới. Đối với Tuyến cắt dọc, chiều cao công trình xây dựng có xu hướng đồng đều và hài hòa giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa.

b) Thiết kế hợp khối và tách khối công trình xây dựng

- Hợp khối: 1) Hợp khối công trình xây dựng trên mặt bằng, chịu kiểm soát về khoảng lùi, khoảng đua; 2) Hợp khối trên bình diện đứng, phân vị tầng, chiều cao, ngôn ngữ kiến trúc.

- Tách khối: 1) Tách khối trên bình diện nền thông qua việc hạn chế xây dựng các dãy công trình quá dài; 2) Tách khối trên bình diện đứng tạo phân vị theo chiều dọc cho công trình quá dài và phân vị ngang đối với các công trình quá cao.

c) Bảo vệ và khai thác các giá trị kiến trúc đặc trưng

- Bảo vệ cục bộ thông qua các quy định, hạn chế sửa chữa thay thế mới; thiết lập vùng cảnh quan đệm đối với những khu vực có giá trị văn hóa, tín ngưỡng.

- Khai thác không gian văn hóa, tín ngưỡng. Thiết lập không gian cho các hoạt động tín ngưỡng của người dân trong khu vưc;

d) Áp dụng giải pháp vào các dạng không gian gắn kết

Không gian gắn kết mềm: 1) Thiết lập tuyến cắt ngang có xu hướng thấp dần về phía làng xóm hiện có, tuyến cắt dọc đồng đều tại trục giao thông và thấp dần về phía không gian mở; 2) Hợp khối các công trình dọc tuyến, tách khối đứng theo các công trình cao tầng; 3) Lập vùng bảo vệ khống chế về mật độ và tầng cao.

Không gian gắn kết cứng: 1) Thiết lập tuyến cắt ngang có xu hướng đồng đều về tầng cao trong phạm vi không gian nghiên cứu, tuyến cắt dọc có xu hướng nâng lên tại vị trí trọng tâm gắn kết; 2) Hợp khối các công trình bên phía làng xóm, tách khối, tạo phân vị ngang áp dụng cho các công trình bên phía khu đô thị mới; 3) Bảo tồn chỉnh trang cục bộ các công trình có giá trị lịch sử.

Không gian gắn kết hỗn hợp: 1) Thiết lập tuyến cắt ngang có chiều cao đồng nhất, theo tuyến cắt dọc được nâng lên tại trục kết nối; 2) Hợp khối các công trình gần về khía khu đô thị mới và tách khối các công trình gần về phía làng xóm đô thị hóa; 3) Bảo tồn đặc trưng không gian cục bộ, tránh tạo lập sự tương phản.

Giải pháp 4. Tổ chức không gian mở có tính gắn kết

a) Tổ chức không gian mở chia sẻ nhiều hoạt động. Bao gồm: i) Không gian sử dụng giao thoa, phi tầng bậc; ii) Chia sẻ không gian cho hoạt động thiết yếu, như dừng đỗ xe, điểm vui chơi, tập luyện thể thao.

b) Thiết lập tính đa dạng cho không gian gắn kết, bao gồm: i) Đặc tính đa dạng đáp ứng các hoạt động khác nhau trong cùng một thời điểm.; ii) Đặc tính đa dạng đáp ứng hoạt động trong những khoảng thời gian khác nhau.

c) Áp dụng giải pháp vào các dạng không gian gắn kết

Không gian gắn kết mềm: 1) Chia sẻ không gian cho các chức năng thương mại dịch vụ, hạ tầng xã hội cấp khu vực và hoạt động thiết yếu bố trí hỗn hợp trong công trình công cộng, thương mại dịch vụ; 2) Xác lập đặc tính đa dạng trong không gian thương mại- dịch vụ và công cộng.

Không gian gắn kết cứng: 1) Chia sẻ không gian cho các chức năng thương mại dịch vụ, hạ tầng xã hội đan xen 2 bên khu vực, và Chia sẻ hoạt động thiết yếu trong không gian mở; 2) Xác lập đặc tính đa dạng nhiều hoạt động trên không gian vỉa hè, tạo sự sôi động, Hạn chế chia nhỏ không gian, phân chia nhiều cốt cao độ khác nhau.

Không gian gắn kết hỗn hợp: 1) Chia sẻ không gian cho các chức năng cây xanh, không gian mở, kết hợp với thương mại dịch vụ và chia sẻ hoạt động thiết yếu trong khai thác không gian mở, không gian trống; 2) Xác lập đặc tính đa dạng nhiều hoạt động khai thác vào không gian tốc độ thấp.

  1. Kết luận

Đô thị mở rộng là xu hướng tất yếu mang tới nhiều điều kiện tốt hơn cho đời sống con người, những cũng có thể gây tác động tiêu cực tới phát triển đô thị. Trong chuyên môn về quy hoạch xây dựng, việc quản lý phân bố đất đai hiệu quả là điều kiện tiên quyết cho phát triển đô thị bền vững. Chính vì vậy, thực trạng cho thất công tác quy hoạch và quản lý xây dựng tại khu vực mở rộng thành phố Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn thách thức dưới tác động mạnh mẽ từ nhiều phía. Do vậy, việc làm rõ đặc điểm tính chất của không gian gắn kết đóng vai trò tích cực không chỉ đối với công tác thực tiễn hiện nay mà còn có vai trò quan trọng trong các nghiên cứu định hình những mô hình lý thuyết quy hoạch mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Xây Dựng (2011), “Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
  2. Lê Xuân Hùng (2016), Tổ chức không gian gắn kết giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa tại Thủ đô Hà Nội, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Hà Nội.
  3. Đào Thế Tuấn (2010), “Đô thị hóa và Đô thị hóa ven đô ở Hà Nội”, Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
  4. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định 1259/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
  5. Carmona, M (2010), Public places, urban spaces: the dimensions of urban design, Routledge.
  6. Germán Adell (1999), “Theories and models of the peri-urban interface: A changing conceptual landscape,Research Project, Strategic Environmental Planning and Management for the Peri-urban Interface”, University College London
(Nguồn:TS.KTS. Lê Xuân Hùng - Tạp chí Quy hoạch (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website