Mối liên kết giữa khu vực nội thành Hà Nội và khu vực ven đô trong quá trình phát triển

Là một đất nước đang phát triển, đi lên từ sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của toàn đất nước. Khoảng 65% dân số và lao động với khoảng 80% đất đai thuộc khu vực nông thôn là một minh chứng cho tầm quan trọng của nó.

Điều này không chỉ đúng cho khu vực nông thôn nói chung, mà còn đúng cho cả khu vực thành phố, thị xã, trong đó thành phố Hà Nội là một ví dụ tiêu biểu, với gần 60% dân số sống tại khu vực nông thôn của thành phố năm 2008. Và đến năm 2030, theo dự báo của Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, dân số sống tại khu vực nông thôn Hà Nội vẫn còn khoảng 30%. Vì vậy phát triển khu vực nông thôn Hà Nội là một việc cần được cọi trọng trong phát triển chung thành phố Hà Nội. Nó tác động quan trọng đến sự phát triển bền vững của khu vực đô thị và phát triển chung của thành phố.

Trong phát triển khu vực nông thôn Hà Nội nói chung, đặc biệt là khu vực ven đô, vấn đề tác động của đô thị hóa trong quá trình phát triển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nhận diện nó sẽ cho chúng ta có cái nhìn đúng hướng trong phát triển. Trong khuôn khổ bài tham luận với chủ đề “Mối liên kết khu vực nội thành Hà Nội và khu vực ven đô trong quá trình phát triển” sẽ phần nào cho ta thấy bức tranh diễn ra dưới tác động của đô thị hóa trong quá trình phát triển tại khu vực ven đô. Từ đó có thể đưa ra một số giải pháp trong phát triển khu vực ven đô Thủ đô Hà Nội.

Hơn 7 năm trong công cuộc xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7, khu vực nông thôn nước ta đã có những thay đổi đáng kể. Về nông nghiệp, trong điều kiện nền kinh tế đất nước gặp khó khăn, nông nghiệp vẫn duy trì được tăng trưởng góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng của nền kinh tế, ổn định chính trị, xã hội. Về nông dân, đời sống vật chất và tinh thần liên tục được nâng cao nhanh hơn, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm nhanh, điều kiện về y tế, giáo dục, văn hóa được cải thiện nhanh hơn. dân chủ được phát huy tốt hơn. Về nông thôn, xây dựng nông thôn mới trở thành phong trào rộng khắp cả nước. Bộ mặt nông thôn ở nhiều nơi được đổi mới nhanh hơn, nhất là hạ thiết yếu (giao thông, cấp điện, cấp nước, y tế, giáo dục, văn hóa), hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, an ninh trật tự được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng ở các vùng nông thôn được nâng cao hơn. Điều này cho thấy xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển chung xây dựng đất nước. Và xây dựng nông thôn mới khu vực nông thôn Hà Nội, trong đó có khu vực ven đô cũng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển chung thành phố Hà nội.

Mặc dầu vậy, để phát triển hiệu quả và bền vững trong xây dựng nông thôn mới còn nhiều tồn tại, bất cập. Đó là tính liên kết vùng trong xây dựng sản xuất, cơ sở hạ tầng, môi trường sống trên góc độ phát triển trước mắt và lâu dài. Sự bất cập này cũng được thể hiện trong các thành phố, thị xã nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng. Nơi tưởng chừng có thể giải quyết tốt các tồn tại, bất cập này với tiềm lực kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội, trình độ quản lý cao hơn và các quy hoạch bài bản hơn. Nhưng thực tế cho thấy xây dựng nông thôn mới chưa có sự kết hợp tốt với phát triển đô thị, xây dựng đô thị còn mang tính phát triển nóng, chưa tạo điều kiện phát triển ổn định bền vững cho khu vực nông thôn. Đô thị càng có quy mô lớn và có tốc độ phát triển nhanh, các bất cập này càng thể hiện rõ nét. Khu vực ven đô của các đô thị, đặc biệt đối với các thành phố lớn như thành phố Hà Nội, là điểm nóng về các bất cập này trong quá trình phát triển, giữa xây dựng nông thôn mới và xây dựng đô thị.

Trong tiến trình phát triển của mỗi đô thị, vùng ven đô có thể coi như một bộ phận quan trọng trong cơ thể sống của đô thị. Nó là khu vực dự trữ tiềm năng cho đô thị phát triển không gian về mặt lượng, chuẩn bị cơ sở cho đô thị phát triển không gian về mặt chất và đồng thời cùng đập nhịp hơi thở với thực tại phát triển đô thị. Và ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng, sự ảnh hưởng lớn tới phát triển cơ thể sống của đô thị. Sự định hướng phát triển vùng ven đô tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho phát triển đô thị tốt trong tương lai và ngược lại.

Theo cấu trúc lãnh thổ hành chính đô thị, hầu hết các đô thị được cấu tạo bởi 2 phần không gian cơ bản: Nội thị (phường, quận) và ngoại thị (xã, huyện), hay nói một cách chung nhất là các đô thị đều có 2 mảng không gian cơ bản: Không gian dân cư đô thị và không gian dân cư nông thôn. Khu vực ven đô được hiểu một cách thông thường nhất là vùng ven khu vực nội thị. Đối với thị trấn là khu vực ven khu vực xây dựng đô thị. Đối với thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là các xã thuộc vùng ven khu vực nội thị. Đối với thành phố trực thuộc trung ương là các xã, huyện thuộc vùng ven khu vực nội thị. Như vậy cho thấy rằng khu vực ven đô là một khái niệm mang tính đa dạng, mềm dẻo, tuỳ thuộc vào cấp, loại đô thị và tốc độ phát triển của đô thị. Theo quan điểm trong bài tham luận, về quy hoạch xây dựng, so với thực tại phát triển đô thị, khu vực ven đô có thể được coi là khu vực mở rộng đô thị trong giai đoạn quy hoạch. Trong thực tại phát triển đô thị khái niệm khu vực ven đô còn mang tính mềm dẻo hơn nữa, nó gắn liền với quá trình đô thị hoá các làng xã vùng ven. Nó có sự đan xen giữa khu vực mới trở thành nội thị và vùng ven nội thị. Quá trình đô thị hoá làm biến đổi không gian do mở rộng các khu đô thị mới ra khu vực đồng ruộng ven đô, đồng thời cũng ôm trong lòng đô thị nhiều làng xã nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống tồn tại khá lâu đời.

Trong “Tiêu chuẩn và Quy hoạch – Thiết kế và xây dựng quy hoạch đô thị, 1978” có nêu:

“Ngoại thị là vùng lãnh thổ tiếp giáp với đô thị, là nơi để tổ chức nghỉ ngơi dài ngày và ngắn ngày cho người dân đô thị, nơi bố trí một số công trình phục vụ cho đô thị nhưng không thể đặt trong nội thị được, là nơi tổ chức vành đai thực phẩm cung cấp một phần quan trọng nhu cầu thực phẩm của đô thị. Ngoại thị còn là nơi dự trữ đất đai để phát triển đô thị.

Trong phạm vi ngoại thị có thể bố trí:

- Công viên rừng, công viên ngoại thị, các khu rừng cấm, vườn cây ăn quả, vườn ươm và các loại cây xanh khác.

- Các công trình nghỉ ngơi dài ngày và ngắn ngày, các công trình thể dục thể thao, du lịch, khu vực để thiếu nhi cắm trại,…

- Những điểm dân cư nông. lâm nghiệp;

- Cơ sở chữa bệnh và an dưỡng

- Các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, các cơ quan nghiên cứu khoa học

- Các công trình và đầu mối giao thông đối ngoại: Nhà ga đường sắt, sân bay, bến cảng,…

- Các xí nghiệp nông nghiệp

- Các trạm biến thế và đường dây cao thế

- Các công trình đầu mối về cấp nước, thoát nước, xử lí nước bẩn, xử lý rác.

- Các đài thu phát vô tuyến truyền hình, truyền thanh, các trạm khí tượng,….

- Các xí nghiệp công nghiệp trực tiếp phục vụ đô thị hoặc có quan hệ dây chuyền công nghệ với các xí nghiệp trong đô thị.

Trong vùng ngoại thị của những đô thị lớn có thể có những đô thị vệ tinh. Các đô thị vệ tinh không được bố trí ở những nơi có điều kiện tốt để tổ chức nghỉ ngơi giải trí, điều dưỡng của nhân dân.

Qua trên cho thấy khu vực ven đô là một không gian đặc biệt trong không gian ngoại thành, nơi diễn ra tốc độ đô thị hóa cao trong quá trình phát triển đô thị, có gắn kết mật thiết với khu vực nội thị và cùng với nó hình thành khu vực đô thị trung tâm trong tương lai gần. Về mặt khái niệm chưa có một thống nhất mang tính pháp lý định nghĩa khu vực ven đô ở Việt Nam. Nhưng rõ ràng chức năng của nó bao hàm một số chức năng của khu vực ngoại thành, tùy thuộc vào thực tại và sự phát triển của thành phố mà xác định cụ thể các chức năng của nó.

Hà Nội là thủ đô, là một trong 2 thành phố lớn nhất cả nước, với 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện. Tổng diện tích tự nhiên thành phố khoảng 334.460ha, diện tích đất nông thôn khoảng 290.598ha, chiếm khoảng 86,9% - chủ yếu là ngoại thành, trong đó có khu vực ven đô (số liệu năm 2009). Dân số Hà Nội khoảng 6.350.000 người, trong đó dân số thành thị khoảng 2.583.000 người, dân số nông thôn khoảng 3.766.000 người (số liệu năm 2008). Toàn thành phố có khoảng 50208ha đất xây dựng, trong đó có 43.862ha đất xây dựng đô thị (số liệu năm 2009). Dự báo tổng dân số năm 2020 khoảng 7,9 triệu người và năm 2030 khoảng 9,2 triệu người. Trong đó dân số thành thị khoảng 6,25 triệu người (bao gồm đô thị hạt nhân, 5 đô thị vệ tinh và các thị trấn huyện lỵ); Nông thôn khoảng 2,95 triệu. Tỷ lệ đô thị hóa khoảng 68%. Đến năm 2030 Đô thị hạt nhân có khoảng 4,5-4,6 triệu người. Qua trên cho thấy khu vực ngoại thành, trong đó khu vực ven đô thực sự là điểm nóng, cần quan tâm đặc biệt, một cách tổng thể, đồng bộ trong quá trình phát triển của thành phố.

Tuy nhiên, trong giai đoạn trước đây, trước Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 (năm 2009), các quy hoach chung xây dựng Hà Nội chủ yếu tập trung vào khu vực xây dựng đô thị. Đối với khu vực ven đô khi triển khai chi tiết lại mang tính đáp ứng theo từng dự án, không có sự kết nối tổng thể giữa khu vực nông thôn với xây dựng đô thị trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, khi các vùng ven đô có tốc độ phát triển đô thị hoá nhanh, rõ rệt, đã phát sinh các vấn đề nổi cộm như:

 - Phát triển đất đai xây dựng dân cư khá tuỳ tiện dưới ảnh hưởng các cơn sốt của thị trường đát đai đô thị.

- Phát triển công trình xây dựng trong các điểm dân cư một cách tự phát và nhanh chóng, gây sự mất cân bằng về môi trường sinh thái khu dân cư. Điều bất cập là ở chỗ công trình xây dựng kién trúc được phát triển theo kiểu xây dựng đô thị trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật của làng xóm nông thôn, nó không những gây sự quá tải cho mạng lưới cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện có mà còn bất cập hơn là sự phức tạp trong cảeni tạo điểm dân cư sau này. Sự phát triển xây dựng điểm dân cư nặng về tính hiệu ích kinh tế trong sử dụng đất đai và coi nhẹ việc tạo môi trường sống tốt.

- Trong phát triển điểm dân cư nông thôn vùng ven đô thiếu tính định định hướng cho phát triển hiện tại và tương lai. Chưa thấy rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa các điểm dân cư với các dự án xây dựng ở vùng ven đô (đô thị mới, khu công nghiệp ...), chưa thấy rõ lộ trình phát triển trên cơ sở lộ trình phát triển đô thị. Và đương nhiên các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho phát triển loại hình điểm dân cư này cũng chưa được định hình. Không thể áp dụng các chỉ tiêu cho phát triển điểm dân cư nông thôn chung vào vùng ven đô.

Theo quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, đô thị trung tâm bao gồm Khu vực nội đô, Khu vực mở rộng phía nam sông Hồng, Khu vực mở rộng phía bắc sông Hồng và khu vực 2 bên sông Hồng. Ngoài khu vực nội đô, các khu vực khác cơ bản nằm trong khu vực ven đô trong thời điểm hiện nay (quận Long Biên, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông và các huyện Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì)

- Khu vực nội đô: Được giới hạn bởi 8 quận nội thành cũ như sau: phía Bắc và Đông:Giáp sông Hồng, phía Nam: Khu vực ga Giáp Bát, hồ Yên Sở, phía Tây: Khu vực đường vành đai 3 (các quận Hoàn kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Tây Hồ). Với tính chất là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử, thương mại, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực. Trung tâm hành chính, văn hóa, lịch sử, thương mại, du lịch, giải trí chất lượng cao của Thành phố Hà Nội. Là không gian bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long cổ và lối sống truyền thống của người Hà Nội. Là vùng cây xanh cảnh quan đặc trưng.

- Khu mở rộng phía Nam sông Hồng từ sông Nhuệ đến đường vành đai 4 gồm chuỗi các khu đô thị: Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông, Thanh Trì. Là khu vực phát triển dân cư mới đồng bộ và hiện đại, các trung tâm văn hóa, dịch vụ thương mại, tài chính của vùng, quốc gia. Dân số đến năm 2030 khoảng 1,2 - 1,4 triệu người.

- Khu mở rộng phía Bắc sông Hồng, Nam sông Cà Lồ, gồm 3 khu vực chính:

Khu đô thị Long Biên - Gia Lâm - Yên Viên: Phát triển dịch vụ thương mại, giáo dục, trung tâm y tế… gắn với các ngành công nghiệp công nghệ cao theo hướng các quốc lộ 5 và quốc lộ 1. Đến năm 2030 dân số khoảng 0,7 triệu người.

Khu đô thị Đông Anh: Phát triển thương mại giao dịch quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch sinh thái, giải trí gắn với bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống khu di tích Cổ Loa, sông Thiếp và đầm Vân Trì; hình thành khu thể thao mới thành phố Hà Nội và Quốc Gia (phục vụ ASIAD), trung tâm triển lãm, thương mại Hà Nội (EXPO) và vui chơi giải trí của Thành phố. Đến năm 2030 dân số khoảng 0,55 triệu người.

Khu đô thị Mê Linh - Đông Anh: Phát triển dịch vụ và các ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật cao gắn với dịch vụ hàng không, sân bay Nội Bài, trung tâm trưng bày, hội chợ hoa và trung tâm khoa học công nghệ chuyên ngành hoa và cây cảnh. Đến năm 2030 dân số khoảng 0,45 triệu người.

- Khu vực hai bên sông Hồng là trục không gian cảnh quan trung tâm của Thủ đô, là nơi bố trí các công viên, công trình văn hóa, giải trí lớn để tổ chức những sự kiện có ý nghĩa của Thủ đô. Khai thác, kế thừa Quy hoạch Cơ bản phát triển sông Hồng đoạn qua Hà Nội (đã được Thành phố Hà Nội tổ chức nghiên cứu) tiếp tục nghiên cứu phát triển đồng bộ hai bên đoạn tuyến chảy quan Thành phố, ảnh hưởng tới trục không gian cảnh quan văn hóa - đô thị Hồ Tây - Cổ Loa. Trên dọc tuyến sông Hồng, phần đất đoạn tuyến đi qua Tứ Liên không xây dựng công trình cao tầng làm ảnh hưởng tới trục không gian cảnh quan kết nối Hồ Tây - Cổ Loa.

Từ Quy hoạch chung xây dựng Thủ Đô cho thấy khu vực ven đô là khu vực kết hợp với khu vực nội đô tạo thành đô thị hạt nhân trong tương lai của thành phố Hà Nội. Đây là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao trong quá trình phát triển Thủ đô Hà Nội, đặc biệt là trong giai đoạn ngắn hạn. Các không gian phát triển chủ yếu trong khu vực ven đô bao gồm:

- Các làng xóm, khu ở hiện hữu chịu tác động của quá trình đô thị hóa trong thời gian vừa qua cần được nâng cấp trong xu thế đất nông nghiệp đã ít (khoảng 342m2/người) ngày càng giảm mạnh, chuyển đổi nghề nghiệp mạnh sang khu vực phi nông nghiệp.

- Các khu ở, công trính công cộng phát triển xen kẹp trong các làng xóm, khu ở hiện có. Gây sức ép về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đòi hỏi sự hòa hợp về không gian kiến trúc đối với làng xóm và khu ở hiện có.

- Các khu đô thị, công trình cộng cộng mới, được xây dựng hiện đại chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, do nhu cầu phát triển mới và yêu cầu dịch chuyển từ nội đô ra khu vực ven đô. Đòi hỏi sự liên kết tốt vể hạ tầng kỹ thuật với khu vực xung quanh và khu vực nội đô.

- Các khu du lịch sinh thái, dịch vụ vui chơi giải trí được phát triển phục vụ chung cho người dân đô thị, đặc biệt là người dân khu vực nội đô, nơi còn thiếu nhiều dịch vụ nghỉ ngơi, vui chơi giải trí.

- Các khu công nghiệp được xây dựng mới chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển và yêu cầu dịch chuyển xí nghiệp, nhà máy không còn phù hợp tồn tại trong khu vực nội đô.

- Các khu, công trình tiểu thủ công nghiệp được phát triển đáp ứng nhu cầu hàng hóa dân sinh cho người dân đô thị, đặc biệt cho khu vực nội đô.

- Các trang trại phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, công nghệ cao được hình thành đáp ứng nhu cầu hàng hóa dân sinh cho người dân đô thị, đặc biệt cho khu vực nội đô.

- Các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp, thoát nước, cấp diện, ..) phục vụ chung cho khu vực đô thị, đặc biệt có sự liên kết chặt chẽ với khu vực nội đô.

Qua sự phát triển các không gian chủ yếu khu vực ven đô cho thấy các mối liên kết chủ yếu giữa khu vực nội đô và khu vực ven đô Hà Nội trong quá trình phát triển là:

- Khu vực ven đô là khu vực chính hỗ trợ giảm thiểu sức ép dân số cho khu vực nội đô.

- Khu vực ven đô là khu vực hỗ trợ giảm mật độ xây dựng, cải thiện môi trường sống cho khu vực nội đô.

- Khu vực ven đô là khu vực hỗ trợ tăng điều kiện nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho khu vực nội đô.

- Khu vực ven đô là khu vực hỗ trợ giảm tải về hạ tầng kỹ thuật cho khu vực nội đô.

Từ các mối liên kết giữa khu vực ven đô và khu vực nội đô các vấn đề cần lưu ý trong phát triển đối với khu vực ven đô:

- Giải quyết việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thuộc khu vực ven đô.

- Giải quyết tốt công ăn việc làm cho người dân khu vực ven đô.

- Giải quyết tốt sự đi lại giữa khu vực ven đô với khu vực nội đô.

- Giải quyết hài hòa không gian kiến trúc giữa khu vực mới xây và khu vực làng xóm hiện có tại khu vực ven đô. Đảm bảo giữ gìn bản sắc các làng xóm hiện có trong khu vực ven đô.

- Giải quyết tốt vấn đề môi trường tại khu ven đô.

- Giải quyết tốt khu vực nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho người dân nội đô tại khu vực ven đô.

- Giải quyết tốt mạng lưới cơ sở hạ tầng kỹ thuật liên kết giữa khu vực ven đô và khu vực nội đô.

Khu vực ven đô trong quá trình phát triển là sự phát triển đan xen giữa khu vực hiện có và khu vực xây mới, hay nói một cách khác là giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị. Để giải quyết tốt các vấn đề trên cần phải có sự kết hợp tốt giữa xây dựng nông thôn mới và phát triển đô thị tại khu vực ven đô, trên cơ sở đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa nhu cầu phát triển hiện tại và nhu cầu phát triển tương lai, sử tài nguyên, nguồn lực hợp lý, ổn định đời sồng dân cư nông thôn, đảm bảo không gian quy hoạch, kiến trúc hợp lý, đẹp, hài hoà trong phát triển không gian quy hoạch, kiến trúc chung của thành phố, tránh sự phức tạp, lãng phí trong đầu tư mở mang cơ sở hạ tầng trong các điểm dân cư nông thôn, một số suy nghĩ cần quan tâm cụ thể trong xây dựng khu vực ven đô như sau:

            - Đối với xây dựng nông thôn mới thuộc khu vực ven đô

+ Trong các đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện, xã khu vực ven đô phải định rõ tính chất, các giải pháp (xây dựng chỉnh trang, cải tạo, xen cấy...), chỉ tiêu (lô đất ở, mật độ xây dựng...) định hướng cho phát triển không gian các loại hình điểm dân cư nông thôn khu vực ven đô trong phát triển chung đô thị.

+ Trong quy hoạch xây dựng xã vùng ven đô phải xác định rõ lộ trình phát triển điểm dân cư nông thôn, cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật trong lộ trình xây dựng đô thị hoá trên địa bàn xã. Xác định các ngưỡng phát triển điểm dân cư nông thôn về dân số, số hộ, mật độ xây dựng... và các giải pháp không gian kiến trúc trong mối tương quan xây dựng đô thị hoá trên địa bàn xã.

+ Trong quy hoạch chi tiết từng điểm dân cư nông thôn khu vực ven đô phải xác định được các giải pháp khống chế trong phát triển không gian kiến trúc trên cơ sở thực trạng xã hội điểm dân cư nông thôn (như mật độ xây dựng, tầng cao, diện tích lô đất, chiều rộng lô đất mặt tiền...).

+ Trong quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn khu vực ven đô, các tiêu chuẩn áp dụng phải hướng tới các tiêu chuẩn xây dựng đô thị, trừ các loại hình điểm dân cư nông thôn mang chức năng đặc biệt.

+ Đối với các làng nghề truyền thống, khu vực tiểu thủ công nghiệp, trang trại các giải pháp quy hoạch không gian kiến trúc, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật phải hướng tới đảm bảo sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giữ gìn được bản sắc truyền thống.

+ Trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã khu vực ven đô cần xây dựng kế hoạch phát triển nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, phát triển phù hợp giữa trước mắt và lâu dài trong phát triển chung đô thị.

- Đối với xây dựng phát triển đô thị khu vực ven đô

            + Tuân thủ các quy hoạch xây dựng được phê duyệt.

            + Xây dựng kế hoạch phát triển đô thị hợp lý về mặt sử dụng tài nguyên, nguồn lực đầu tư, tổ chức không gian đô thị và xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo tính liên kết chung của đô thị.

            + Xây dựng kế hoạch ổn định dân cư nông thôn theo tiến trình phát triển xây dựng đô thị.

            + Xây cơ chế, chính sách, chế tài đối với các dự án xây dựng đô thị không thuộc nguồn đầu tư của nhà nước nhằm đảm bảo phát triển đô thị đúng hướng, phù hợp với nhu cầu, tránh lãng lãng phí tài nguyên và nguồn lực xã hội.

Trên đây là một số suy nghĩ về mối liên kết giữa khu vực ven đô và khu vực nội đô trong quá trình phát triển Thủ đô Hà Nội và các vấn đề cần quan tâm trong xây dựng khu vực ven đô trong phát triển chung thành phố Hà Nội.

(Nguồn:ThS.KTS Đàm Quang Tuấn - Tạp chí Quy hoach (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website