Mối quan hệ cộng sinh giữa đô thị và nông thôn Việt Nam

Tóm tắt: Nông thôn Việt Nam là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển đô thị. Lịch sử phát triển đô thị cho thấy ở Việt Nam, nông thôn rộng lớn có vai trò quan trọng quyết định đến sự hình thành, phát triển và tồn vong của đô thị. Bài viết giới thiệu mối quan hệ cộng sinh của đô thị và nông thôn bắt nguồn từ quá khứ và phân tích xu hướng phát triển của mối quan hệ này trong tương lai, với ảnh hưởng của mô hình quy hoạch đô thị cực lớn.

Đồng thời bài viết cũng phân tích sự cần thiết nhìn nhận vấn đề phát triển nông thôn một cách bình đẳng, song hành cùng đô thị.

Từ khóa: Quan hệ cộng sinh, nông thôn Việt Nam, đô thị - nông thôn

Trong suốt chiều dài lịch sử của quá trình phát triển, các đô thị Việt Nam luôn được bao bọc, chịu ảnh hưởng và tác động bởi khu vực nông thôn rộng lớn. Nếu như ở các quốc gia khác trên thế giới, các đô thị thời kỳ Trung đại đã là những hạt nhân thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cả vùng, đô thị chi phối nông thôn, thì ngược lại, ở Việt Nam, đô thị bị nông thôn chi phối. Nhiều đô thị Việt Nam trong thời kỳ này còn suy tàn và bị nông thôn đồng hóa, điển hình như các đô thị Vân Đồn, Phố Hiến…. Các nhà sử học đã nhận định “…các đô thị cổ Việt Nam phát triển khó khăn…, nông thôn Việt Nam có ảnh hưởng to lớn đến đô thị, …trong sự phát triển cộng sinh với nông thôn, khi nào đô thị suy yếu lập tức bị nông thôn hóa…” (2)

Có thể thấy do chính sách của các triều đại phong kiến luôn bảo vệ quyền lợi cho nền kinh tế tiểu nông Việt Nam  - là nền kinh tế chủ đạo của thời điểm đó - thường xuyên kiềm chế sự phát triển của các đô thị, chỉ khuyến khích những hoạt động phi nông nghiệp có mục tiêu phục vụ bộ máy cai trị và phát triển nông nghiệp.

Các đô thị Việt Nam trong thời kỳ Phong kiến với nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào sự bảo trợ của Nhà nước Quân chủ nên khi thay đổi chế độ, không được bảo hộ thường suy tàn và bị nông thôn hóa. Có một số đô thị còn duy trì được đến  ngày nay như Thăng Long, Huế, Hội An... đa số đều là các đô thị mang tính chất chính trị - hành chính hoặc đồn trú có kèm theo một bộ phận “thị” nhỏ mang tính kinh tế tự cung tự cấp.

Nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp đã tạo điều kiện tích cực cho các làng cổ truyền Việt Nam phát triển bền vững, khuyến khích các hoạt động phi nông nghiệp cần thiết bổ sung cho nhu cầu trong cuộc sống thường ngày của người nông dân, được phát triển tại chỗ ngay trong lòng nông thôn. Các làng nghề, các hiệp hội thợ thủ công, các chợ làng được hòa trong nông thôn do đó là mầm mống của nền kinh tế hàng hóa.

Nền kinh tế tự túc và nền kinh tế hàng hóa đối lập nhau về tính chất, nhưng lại song song tồn tại trong một thiết chế quản lý chung, phản ánh kết cấu kinh tế truyền thống của làng xã thời đó, một mặt giúp ổn định các làng xã, mặt khác kìm hãm, làm chậm lại quá trình đô thị hóa của đất nước. Đã hình thành nhiều làng chuyên làm nghề thủ công, chuyên buôn bán nhưng vẫn được cấu trúc theo kiểu làng xã chứ không tách ra thành đô thị như Bát Tràng, Nội Duệ, Ninh Hiệp… Ở miền núi nơi làng bản phân tán, dân cư thưa thớt, chợ liên xã truyền thống của các tiểu vùng không chỉ là nơi để mua bán hàng hóa mà đã trở thành nơi gặp gỡ giao tiếp xã hội, trao đổi văn hóa, vui chơi giải trí cho người dân vùng cao.

Các nhà lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội là đã nhận định đặc điểm đô thị hóa Việt Nam dưới thời phong kiến là sự hòa đồng của thành thị vào nông thôn (1). Đặc điểm này mãi còn chi phối các đô thị Việt Nam cho đến ngày nay. Để quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cần phải xem xét đô thị trong mối quan hệ tương tác với nông thôn, hiểu và nắm bắt được đặc điểm này.

Có lẽ không ở đâu trên thế giới mà sự gắn kết, hòa đồng của nông thôn và thành thị lại chặt chẽ như ở Việt Nam. Gắn kết đến mức khó nhận biết tách bạch trong nghiên cứu về không gian của hai khu vực. Chúng ta thường gặp hình ảnh những “phố huyện” trong các tuyến đường chưa được quản lý chặt ở đô thị, lại cũng gặp những “nhà phố” ở các tuyến đường phát triển mạnh ở nông thôn. Trong các thành phố lớn vẫn tồn tại những “làng đô thị hóa” trong khu vực nội đô. Khi lập quy hoạch chung các đô thị từ loại 4 trở lên, các chuyên gia quy hoạch phải giải quyết đồng thời 2 bài toán: 1-) Quy hoạch đô thị và 2-) Quy hoạch nông thôn. Trong quá trình phát triển, các đô thị càng mở rộng về quy mô đất đai và dân số, sẽ đương nhiên ôm trọn các điểm dân cư nông thôn vào trong ranh giới đô thị. Quy hoạch đô thị phải đối mặt với những thách thức về mô hình gắn kết giữa đô thị và nông thôn trong những hình thái phát triển mới của đô thị như siêu đô thị, vùng đô thị, dải đô thị…

Hình thái phát triển đô thị đáng chú ý ở các thành phố lớn hiện nay là Megalopolis- tạm dịch là Siêu đô thị dạng dải - được đề xuất lần đầu tiên vào những năm 50 của thế kỷ XX bởi nhà Địa lý học người Pháp Jean Gottmann (1915-1994) để diễn tả hiện tượng các đô thị lớn, phát triển dọc theo một trục giao thông huyết mạch, có xu hướng lan rộng và kết dính với nhau tạo thành một dải đô thị.

Trong dải đô thị này gồm các đô thị và các điểm dân cư nông thôn có quan hệ mật thiết, hỗ trợ và tạo điều kiện lẫn nhau. Ranh giới đô thị - nông thôn chỉ tồn tại về mặt hành chính. Các đô thị không là một thực thể hoàn chỉnh và khép kín mà hòa nhập, đan xen và chồng lấn lên nhau, ôm cả làng mạc, ruộng đồng và rừng cây vào dải đô thị. Sẽ diễn ra một quá trình tái cấu trúc các khu chức năng giữa các đô thị trong dải này. Các khu công nghiệp,  thương mại dịch vụ, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí lớn phục vụ cho toàn vùng trong dải đô thị. Giao thông phát triển cho phép người dân sống ở đô thị này nhưng lại đi làm ở khu công nghiệp của đô thị kia và vui chơi giái trí cuối tuẩn tại một khu nghỉ dưỡng đặt ở vùng nông thôn nọ. Mặc dù có các khu đất nông nghiệp, làng mạc thậm chí cả đất rừng xen kẽ, làm gián đoạn không gian Megalopolis nhưng các hoạt động kinh tế, giao thông vận tải và truyền thông thì liên tục và thuận tiện, đó chính là ưu điểm của mô hình phát triển đô thị này.

Điều kiện để hình thành các Megalopolis là các đô thị lớn được kết nối với nhau bằng một trục giao thông thuận tiện. Trong đó, quan trọng nhất phải có 2 đô thị liên quan đến nhau, hỗ trợ lẫn nhau, có xu hướng lan rộng và hướng về nhau.

Điển hình nổi bật của hiện tượng này là dải đô thị Bos-Wash nối liền Boston và Washington DC, dọc bờ biển Đông Bắc Mỹ. Sau Bos-Wash, quá trình đô thị hóa ở quốc gia này tiếp tục tạo thành các Megalopolis nổi tiếng khác như "Chi-Pitts," và "San-San", dải đô 

thị nối thành phố Chicago với Pittsburgh, thành phố San Francisco với San Diego.

Tiếp nối phát hiện của Jean Gottmann, nhiều nhà  địa lý học khác cũng tập trung nghiên cứu sự phát triển của Megalopolis ở Mỹ và sau đó khái niệm này nhanh chóng được áp dụng trên toàn cầu. Tại châu Á, Megalopolis cũng xuất hiện ở Nhật Bản, đầu tiên là dải đô thị nối các thành phố Tokyo-Nagoya-Osaka.

Hiện tượng Megalopolis làm thay đổi tư duy Quy hoạch truyền thống vốn coi đô thị như một tổ chức chặt chẽ, độc lập, tách biệt với nhau, tách biệt với nông thôn  và với môi trường xung quanh. Mô hình đô thị tầng bậc, tập trung và khép kín không còn phù hợp với xu thế mở và linh hoạt của các vùng đô thị, dải đô thị hay siêu đô thị. Vậy giải pháp nào 

cho quy hoạch những khu vực đô thị như thế này? Để một tập hợp cực lớn như Megalopolis ổn định và phát triển đòi hỏi những đơn vị nhỏ cấu tạo nên nó phải bền vững và ổn định. Trong trường hợp này, mô hình Đơn vị ở đô thị và thôn/ làng của nông thôn với các công trình trung tâm đáp ứng các nhu cầu thường xuyên, hàng ngày của con người tiếp tục được xem xét. Mỗi đơn vị ở đô thị/ nông thôn được thiết kế quy hoạch hoàn chỉnh và đồng bộ sẽ trở thành một tế bào khỏe mạnh để Megalopolis- tập hợp của vô số tế bào- phát triển.

Việt Nam có nền nông nghiệp phát triển, nông thôn Việt Nam rộng lớn tuy nhiên trong một thời gian tương đối dài nông thôn không được chú trọng bằng đô thị. Khu vực nông thôn nhiều khi trở thành khu vực dự trữ đất đai để phát triển đô thị, bất cứ khi nào cần mở rộng đô thị là lấy. Ngay cả những dự án phát triển nông thôn cũng tiếp cận từ góc độ của đô thị, hy sinh nhiều cho đô thị. Nhiều khu vực nông thôn nằm trong hành lang xả lũ chống ngập lụt cho các thành phố lớn, hay phải chịu đựng Nghĩa trang, bãi rác, công trình xử lý nước thải cho đô thị. Kinh tế nông thôn không được hỗ trợ duy trì, dòng dịch cư của người nông dân lên thành thị tìm kiếm cơ hội việc làm không ngừng gia tăng khiến làng xóm trống vắng, đất nông nghiệp bỏ hoang. Trong khi đó, các thành phố lại ngày càng trở nên quá tải, hạ tầng kỹ thuật đô thị xuống cấp, tắc nghẽn giao thông ô nhiễm môi trường và mất kiểm soát phát triển. Đây là hậu quá của việc chủ trương chú trọng phát triển đô thị để làm trọng tâm thúc đẩy sự phát triển của nông thôn mà quên mất rằng nông thôn cũng có tầm quan trọng ngang đô thị, thậm chí nông thôn Việt Nam chiếm gần 70% dân số cả nước nên càng cần được ưu tiên.

Ngày nay, nông thôn Việt Nam đã được nâng cao vị thế trong nhận thức của các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách. Nhất là khi đô thị ngày càng phải đối mặt với các thách thức nghiêm trọng và to lớn của Biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, sự mất cân bằng sinh thái trong môi trường đô thị. Chú trọng phát triển tốt nông thôn là góp phần giải quyết các vấn đề này của đô thị. Vì vậy đô thị- nông thôn cần được nghiên cứu xem xét một cách bình đẳng và thống nhất trong mối liên hệ vùng và liên vùng.

Kết luận: Nông thôn Việt Nam là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển đô thị. Trong một thời gian dài nước ta chú trọng vào việc phát triển đô thị, tập trung nhiều nguồn lực cho đô thị, chủ trương dùng đô thị như những đòn bẩy thúc đẩy nông thôn. Tuy nhiên, nông thôn vẫn rất cần những chính sách phát triển riêng, cần được nghiên cứu song hành, bình đẳng với đô thị. Nhất là trong điều kiện Việt Nam với những đặc điểm riêng về mối quan hệ cộng sinh chặt chẽ giữa đô thị và nông thôn trong lịch sử.

Tài liệu tham khảo:

  1. Đàm Trung Phường: Đô thị Việt Nam.  2 tập. Nhà xuất bản Xây dựng. Hà Nội 1995.
  2. Văn Tạo chủ biên: Đô thị cổ Việt Nam. Viện Sử học. Hà nội, 1989.
  3. Gottmann Jean , 1961. Megalopolis: The Urbanized Northeastern Seaboard of the United States. New York: The Twentieth Century Fund, 1961.
  4. Collin Rowe and Fred Koetter, 1978: Collage City, MIT Press

 

(Nguồn:PGS. TS. KTS. Lương Tú Quyên - Tạp chí Quy hoạch số (89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website