Quan hệ giữa đô thị và nông thôn

Quan hệ giữa thành thị và nông thôn Nông thôn xuất hiện 4000 năm trước Công nguyên, cuộc cách mạng ngành sản xuất đầu tiên của loài người là cách mạng nông nghiệp, đã kết thúc thời kỳ du mục và săn bắn của loài người, chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi, bắt đầu cuộc sống định cư, từ đó xuất hiện nông thôn. Nông thôn xuất hiện đã đánh dấu kết thúc thời kỳ mông muội của loài người.

Xuất hiện đô thị sơ khởi

Từ năm 4000 đến 1000 trước Công nguyên thời kỳ cổ đại, theo sau những cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp trong đó có việc nắm vững thời vụ gieo trồng, phát hiện ra phân bón và cải tiến công cụ sản xuất nông nghiệp được nâng cao tương đối nhanh nhanh chóng, sản xuất ra nhiều lương thực và sản phẩm kinh tế hơn, thỏa mãn nhu cầu của bản thân con người. Đồng thời trao đổi hàng hóa cũng từ đó mà sinh ra, các thợ khéo và người buôn bán cũng bắt đầu tập trung ở những nơi tiện liên hệ, từ đó sinh ra yếu tố của đô thị sơ khởi. Đô thị xuất hiện lại thúc đẩy tiến trình lịch sử văn minh của loài người -những khu vực phát sinh sớm nhất cách mạng sản xuất thứ nhất và khu vực xuất hiện đô thị sơ khởi, đều nằm ở lưu vực sông Tigre và Euphrates lưu vực sông Nile, sông Hằng và sông Hoàng Hà màu mỡ nhất thế giới khi đó.

Đô thị hóa

Đô thị vừa mới xuất hiện thì trong xã hội loài người bắt đầu ngay tiến trình đô thị hóa, tức là quá trình dân số hướng vào đô thị để tập trung dân số nông thôn chuyển hóa thành dân đô thị. Nhưng năng xuất sản xuất nông nghiệp khi đó rất thấp rõ ràng tiến trình đô thị hóa để văn minh hóa loài người là rất chậm chạp.

Kết quả gần 300 năm đô thị hóa của toài người tới năm 1800 trải qua nhiều thời kỳ: (i)1000 năm trước Công nguyên đến 500 năm sau Công nguyên thời kỳ Cổ đại Châu Âu (ii) năm 500 đến 1500 thời kỳ Trung đại (iii) năm 1500 đến 1800 thời kỳ Cận đại, song lúc đó cả thế giới chỉ có 3% dân số tập trung sinh sống và làm việc ở đô thị. Hơn nữa quy mô của những đô thị này không lớn (không có thành phố nào trên 1 triệu dân) chất lượng cũng thấp. Do phương tiện giao thông lạc hậu và nhu cầu dùng nước ngọt, chúng phân bố chủ yếu ở vành đai ven sông nội địa, do con người chưa có năng lực chống chọi với biển cả, các thành phố chưa phát triển ở ven biển. Quá trình đô thị hóa này với dân số lặng lẽ dần dần tập trung tới thành phố và tình cảnh đô thị và nông thôn không chênh lệch nhau rõ nét, tất nhiên không có khả năng thu hút được sự chú ý của xã hội đương thời.

Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng đô thị:

Lần 1: Thành phố Jericho (Israel) cách nay 1000 năm (thời kỳ trung đại)

Lân 2: Từ khoảng 1750 (thời kỳ cận đại) ở châu Âu và Bắc Mỹ, gắn với chủ nghĩa tư bản (CNTB), “thế giới tứ nhất”.

Lẩn 3: Sau chiến tranh “thế giới thứ 2” (1945), “Các nước mới công nghiệp hóa” (Newly Industrialized Countries – NICs) “ thế giới thứ 3”: công ghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), đô thị hóa (ĐTH).

Sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn

Cuộc cách mạng ngành sản xuất lần thứ hai bắt đầu vào giữa thế kỷ 18 đã bắt dầu thời kỳ hiện đại, thời kỳ công nghiệp. Ống khói lớn mọc lên đã mở ra kỷ nguyên mới cho nền văn minh loài người, khiến cho xã hội loài người bước vào nền văn minh hiện đại, đô thị không những là nơi trao đổi nông sản phẩm và người thợ thủ công nghiệp làm việc, mà còn dần dần trở thành nơi có thể thu nạp nhiều sức lao động hơn. Từ đó tiến trình đô thị hóa trên thế giới nhanh hơn. Đúng như tuyên ngôn Đảng Cộng sản chỉ rõ “Giai cấp tư sản trong một trăm năm thống trị giai cấp của họ đã tạo ra sức sản xuất nhiều hơn và lớn hơn toàn bộ sức sản xuất do tất cả các thế hệ trước tạo ra”, “Họ lập ra những thành phố lớn, khiến cho dân số thành phố gia tăng nhiều hơn dân số nông thôn”. Kết quả tất nhiên là sự chênh lệch giữa đô thị và nông thôn cũng bắt đầu rõ nét hơn. Về mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn kể từ khi thành thị xuất hiện tới nay, nếu nói trong thời cổ đại thành thị thống trị nông thôn về kinh tế, trong thời trung đại nông thôn cũng thống trị thành thị về chính trị và kinh tế, thì sau cách mạng công nghiệp thời hiện đại, mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn đúng như tuyên ngôn Đảng Cộng sản đã chỉ ra: “Giai cấp tư sản khiến cho nông thôn phục tùng sự thống trị của thành thị”. Xét chung quá trình phát triển quan hệ giữa thành thị và nông thôn từ bấy đến nay, về tính chất đó là mối quan hệ động thái, về mặt phát triển đó là mối quan hệ phối hợp thúc đẩy, ảnh hưởng lẫn nhau, trao đổi lẫn nhau. Trong quá trình cải cách công nghiệp đô thị hóa càng nhanh hơn, năm 1820 thành phố trên triệu dân London do đó mà ra đời, sự chênh lệch giữa đô thị và nông thôn bắt đầu rõ nét. Một sự vật phát triển và thay đổi nhanh chóng, đều không thể tận thiện tận mỹ đựợc. Không ít thế lực bảo thủ sợ hãi trước hiện tượng đô thị hóa nhanh chóng, họ chủ trương chia dân số ra thành các tập đoàn 1600-2000 người vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp hòng qua đó xóa bỏ sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn với ảo tưởng “Cộng đồng xã hội lý tưởng”, “vừa là thành thị vừa là nông thôn” / “nhất thể hóa đô thị và nông thôn” đã từng xuất hiện thời kỳ đầu đô thị hóa với quy mô lớn trong xã hội loài người. Song con tàu nông thôn vẫn rầm rập tiến theo quy luật khách quan chẳng hề thay đổi theo ý muốn của bất kỳ ai: dân số nông thôn bắt đầu tập trung đến đô thị, đặc biệt là sau khi Mercator người Hà Lan giải quyết vấn đề then chốt trong kỹ thuật hàng hải, vẽ trái đất hình cầu lên bản vẽ phẳng cuối thế kỷ 16, thúc đẩy ngành hàng hải phát triển và sau khi Watt người Anh cải tiến máy hơi nước khiến cho nó được ứng dụng rộn rãi vào thế kỷ 18, tàu biển bắt đầu xuất hiện, ngành hàng hải kéo theo đó phát triển mạnh mẽ, loài người bắt đầu hướng ra biển cả, dần dần tập trung ở vành đai thành phố đồng bằng ven biển và cửa sông tiện cho liên hệ với bên ngoài, lại có nước ngọt từ đó khiến cho thành phố lớn ven biển phát triển nhanh chóng. Dân số nông thôn giảm đi khiến cho đất đai là tài nguyên cần thiết cho cuộc sống của loài người được tập trung, “cánh tay vô hình” lại thúc đầy các ngành sản xuất có liên quan tới nông nghiệp như công nghiệp công cụ, công nghiệp phân bón hóa học... phát triển nhanh chóng trong thành phố. Năng xuất nông nghiệp vì thế được nâng cao chưa từng thấy.

Tiến trình thực tế chứng minh, sự phát triển của mối quan hệ thành thị nông thôn chính là “hiệu ứng kiểu mới khuếch tán tới nông thôn” sau khi “tập trung tới thành thị” đang phát huy tác dụng. Sự bù đắp lẫn nhau này do hiệu ứng khuếch tán sau khi tập trung gây nên dẫn tới thành thị tập trung đầu tư thực tế cho các vùng nông thôn hữu quan, thúc đẩy “thành thị nông thôn phát triển hài hòa” và có tính cơ cấu cùng tạo nên cục diện phát triển nhanh chóng về kinh tế và xã hội của một quốc gia. Trong lĩnh vực này tuyệt đối không được quá nóng vội gò ép điều gì chỉ có thể thành công khi thích ứng với tình hình. Nếu không, sẽ có thể chịu hậu quả xấu vì đốt cháy giai đoạn. Trong thập niên 1960 của thế kỷ trước nhiều dấu hiệu cho thấy thời kỳ công nghiệp hiện đại đang chuyển mình sang một thời kỳ mới. Sự lấn lướt của thương mại dịch vụ (tertiairisation) là chỉ báo quan trọng nhất. Các nhà kinh tế xã hội bắt đầu nói đến thời kỳ hậu công nghiệp, hậu hiện đại. Nếu như lúc ban đầu từ “hậu” hoàn toàn thích hợp thì ngày hôm nay nó không còn đúng nữa. Ngày nay ta có thể gọi tên chính xác thời kỳ mới hình thành là thời kỳ thông tin và lập trình. Lập trình được hiểu là một loạt hành động được dự kiến trước và được phối hợp trong thời gian và không gian nhằm đạt đến một hay nhiều mục tiêu. Ngày hôm nay có nhiều người muốn lập trình cho từng mảng xã hội lớn, thậm chí cho toàn xã hội, cho toàn thế giới dẫn đến toàn cầu hóa. Sự tin học hóa cho phép làm điều này bởi vậy nó được gọi là thời kỳ thông tin và lập trình. Xã hội thông tin và lập trình với muôn mặt của nó đưa tới hiện tượng đô thị hóa các “thành phố cực lớn” (mega-city) càng làm cho sự chênh lệch giựa thành thị và nông thôn càng thêm sâu sắc, và sự khuếch tán của thành thị và nông thôn thì không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà “có tính toàn cầu” thông qua thương mại.

Xu hướng phát triển xã hội là đô thị hóa chứ không phải là nhất thể hóa thành thị với nông thôn

Điều cần phải nêu ra là khi thành thị và nông thôn cùng tồn tại là những cộng đồng xã hội thì mãi mãi không thể gò ép xóa bỏ sự chênh lệch giữa chúng được biểu hiện ở các mặt như phương thức hoạt động kinh tế, hình thái xã hội, vật chất văn hóa xã hội, tính chất đặc biệt của dân số, phương thức sinh hoạt... Xóa bỏ chênh lệch giữa thành thị và nông thôn bằng biện pháp phân bố đều các ngành công nghiệp lớn và dân số trong cả nước tức là biện pháp nhất thể hóa thành thị và nông thôn, là con đường bình quân chủ nghĩa cấp thấp, không thể thực hiện nổi, mà dù có thể thực hiện được thì cũng không thể áp dụng. Phát triển tốt đô thị, phát huy “tác dụng đầu tàu của đô thị”, tạo nên sự “khuếch tán” sau tập trung của đô thị, thúc đẩy “sự phát triển mang tính cơ cấu trong cả nước tương ứng giữa thành thị và nông thôn” mới là con đường phát triển nhanh chóng nhất, kinh tế nhất của thành thị và nông thôn cả nước. Đô thị hóa là xu thế phát triển của xã hội! Do tác dụng ảnh hưởng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau và đặc biệt là tác dụng tỏa sáng của thành thị, mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn chỉ có thể là phối hợp phát triển, bù đắp lẫn nhau với chủ thể là thành thị. Ngoài ra, cần đặc biệt chỉ ra là hiệu ứng khuyếch tán sau tập trung của thành thị nhất định không thể xuất hiện phương thức sản xuất riêng lẻ, lạc hậu ở vùng ngoại thành.

Đô thị hóa nông thôn

Đô thị hóa khâu then chốt để phát triển nông thôn

Các nước trên thế giới đều phát triển theo một quy luật chung: xã hội nông nghiệp - xã hội công nghiệp (công nghiệp hóa) - dân số và các nghành sản xuất tập trung lại (đô thị hóa) - văn minh cao độ, công nghiệp hóa là tiền đề của đô thị hóa. Do vậy, vấn đề đô thị hóa nông thôn có quan điểm cho rằng công nghiệp hóa nông thôn phát triển thì đô thị hóa nông thôn ắt tự nhiên sẽ xuất hiện? Trong thực tế quy mô nông nghiệp nông thôn còn nhỏ, lại phấn tán nên không thể chờ cho nông nghiệp nông thôn thúc đẩy đô thị hóa mà đô thị hoá nông thôn bằng cách đẩy mạnh đô thị hóa các huyện lỵ, thị trấn, coi đây là khâu then chốt để thu hút sức lao động nông thôn dư thừa để phát triển công nghiệp. Đô thị hóa nông thôn không những không thể ngồi chờ mà hơn nữa sự trì trệ của nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đưa kinh tế nông thôn phát triển. Đô thị hóa có thể giải quyết hai vấn đề lớn đang hạn chế nông nghiệp phát triển là vấn đề bảo hộ nông nghiệp và vấn đề hiện đại hóa nông nghiệp. Chỉ có phát triển đúng lúc đô thị của nông thôn, thu hút và tiêu hóa sức lao động nông nghiệp, khiến cho đất đai từ tay những nông dân nhỏ lẻ tập trung vào những nông hộ lớn, thúc đẩy kinh doanh quy mô, đẩy mạnh chuyên môn hóa, thương phẩm hóa và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp đồng thời thực hiện hảo hộ nông nghiệp một cách mạnh mẽ, thì hiện dại hóa nông nghiệp mới đi vào quỹ đạo. Đô thị hóa có ảnh hưởng quan trọng đối với bố cục sức sản xuất nông thôn nên cần có chiến lược rõ ràng. Trong quá trình đô thị hóa nông thôn, cần coi trọng việc lợi dụng công năng tỏa sáng của thành phố trung tâm như: phổ cập kỹ thuật cao mới, phát huy tác dụng trung tâm trao đổi và lưu thông thông tin, tiền vốn và nhân tài, phổ biến văn minh đô thị, kết hợp với vân dụng địa tô chênh lệch đất đai thành thị nông thôn. Mục đích cuối cùng và cơ sở để dựa của đô thị hoá nông thôn là sự phồn vinh của toàn bộ vùng nông thôn, chứ không phải là phát triển riêng rẽ các huyện lỵ. Ngoài huyện lỵ tập trung một phần các ngành sản xuất và dân số số còn lại cần phải tập trung thông qua đô thị hóa một số bộ phận thị trấn nông thôn, để làm phần mở rộng của đô thị hóa huyện lỵ. Ngoài huyện lỵ ra còn phải bồi dưỡng phát triển những thị trấn trung tâm. Đô thị hóa nông thôn cần phải giải quyết một số vần đề chính sách. Đô thị hóa cần phải dựa vào tiền vốn xây dựng, nhân tài, các ngành sản xuất, phải nhanh chóng đổi mới, làm tốt công tác phối hợp đồng bộ về chính sách đầu tư, sản xuất, dân số, đất đai, động viên tính tích cực của nông dân, dựa vào lực lượng của nông dân để xây dựng “thành phố nông dân”. Kinh nghiệm trên thế giới chứng tỏ, dân số vào khoảng từ 0,2 triệu đến 1 triệu người là quy mô tốt nhất để phát triển kinh tế của môt thị trấn. Những đô thị mới trong một chiến lược “đô thị hóa nông thôn” sâu rộng giúp người dân “ly nông không ly hương” tạo động lực cho một chiến lược phát triển kinh tế vùng.

Đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam

Quá trình công nghiệp hóa nền nông nghiệp sẽ kéo theo một quá trình xã hội khác, có thể xem như là quá trình đô thị hóa, ở ngay địa bàn lâu nay vẫn xem như thuần nông nghiệp. Diễn biến của quá trình đô thị hóa không chỉ về lượng với sự xuất hiện của thị trấn và thành phố trên địa bàn huyện, mà còn xẩy ra về chất với tiến trình đô thị hóa ngay với từng cá nhân, từng tập đoàn người và cả xã hội nông thôn. Nói cách khác, chúng ta sẽ chứng kiến sự thu hẹp dần hay nhích lại gần giữa nông thôn và đô thị, giũa lối sống công nghiệp hay đô thị với lối sống nông nghiệp hay nông thôn. Hiện nay đã có yêu cầu tập trung hóa một số những cơ sở kỹ thuật phục vụ nông nghiệp vào những cụm có phạm vi hoạt động cho một loạt xã. Các cụm kỹ thuật ấy sẽ là nền tảng cho các yếu tố tạo thị cho các điểm dân cư mới – các thị trấn trên địa bàn nông nghiệp. Vậy là trên địa bàn huyện sẽ có 2 loại điểm dân cư: làng xóm và thị trấn. Vấn đề đặt ra là phải quy hoặch xếp đặt lại mạng lưới dân cư này cho phù hợp với những diễn biến kinh tế xã hội trên địa bàn huyện. Chiến lược phát triển đô thị Việt nam thời kỳ 1996-2020 được xây dựng năm 1996 xác định: Các đô thị trung tâm cấp huyện, bao gồm 465 thị trấn - huyện lỵ là trung tâm hành chính dịch vụ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chuyển giao khoa học công nghệ của các huyện. Các đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn gọi tắt là đô thị trung tâm cấp khu vực bao gồm các thị trấn, thị tứ công - nông nghiệp - dịch vụ hoặc là các đô thị vệ tinh làm điểm tựa phát triển của một cụm dân cư nông thôn giữ vai trò thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn hoặc điều hòa quá trình tăng trưởng và phát triển của các đô thị trung tâm. Đã đến lúc cần thí điểm đô thị hóa nông thôn một số huyện lỵ và thị trấn để rút kinh nghiệm về giảm sức ép người nhập cư cho các đô thị trung tâm và là điểm tựa cho Chương trình Xây dựng nông thôn mới.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa phát triễn đô thị và nông thôn ngoại thành

Cho đến nay sự phát triển đô thị và nông thôn ngoại thành hiện tách rời nhau dẫn đến việc giải quyết vấn đề của một lĩnh vực này bằng thiệt hại cho lĩnh vực kia. Hai khu vực cuối cùng nên nhìn nhận vai trò hỗ trợ và bổ sung cho nhau nhiều hơn về kinh tế, môi trường, việc phối hợp quản lý sẽ càng trở nên quan trọng hơn, đặc biệt khi các mâu thuẫn vượt qua hệ thống luật pháp và cách quản lý không thích hợp. Tại ranh giới đô thị vùng ven đô không chỉ là điểm nóng của sự phát triển hỗn loạn mà còn là nơi tiềm ẩn những mâu thuẫn quyền lợi.Việc đầu cơ phổ biến như tranh chấp đất đai vẫn xẩy ra hàng ngày. Ranh giới giữa đô thị và nông thôn sẽ mất dần cùng với quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên các ranh giới cần được tái lập sẽ cho phép thành phố quản lý các khu vực đô thị hóa nhanh chóng và tạo nên sự năng động về kinh tế mà trước đây nền kinh tế nông nghiệp không thể phục vụ được. Nhờ việc cải thiện hệ thống giao thông một số lớn cư dân nông thôn vào thành phố hàng ngày để làm việc. Do vậy đã hình thành “một hợp nhất nông thôn - đô thị toàn diện” (A Comprehensive Rural-Urban Integration), đó là một tổng thể nông thôn đô thị theo kiểu “đô thị - làng quê” hay còn gọi là “làng đô - thị ” (large urban village). Theo nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler “Trong kỷ nguyên thông tin, những nước nghèo nặng về nông nghiệp thuộc thế giới thứ ba có thể sử dụng lợi thế của người đi sau , bằng con đường tắt xây dựng mô hình “Sinh thái - Công nghệ thấp” tiến thẳng vào “văn minh hậu - công nghiệp” mà không phải kinh qua giai đoạn phát triển “công nghiệp cổ điển”. Những điều đó có nhiều điểm tương đồng với các phác họa về xu thế phát triển kiến trúc - đô thị thế giới thế lỷ 21. Ngày nay các chuyên gia đô thị Mỹ đang nói nhiều về sự phát triển của các “làng đô thị” (urban village) hoặc những “chùm đô thị” (urban constellations) trong một “ngân hà đô thị trung tâm” (metropolitan galaxy). Việc sản xuất như vậy sẽ “phân tán” theo quy mô thích hợp từng địa phương. Nếu kỷ nguyên công nghiệp sinh ra các thành phố, thì kỷ nguyên thông tin có thể “phi tập trung chúng”. Thí điểm “làng đô thị xanh” (green urban village) là quyết định mang tính chiến lược dài hạn cần thiết để thực hiện cân bằng nhu cầu phát triển đô thị và nông thôn. “Làng đô thị xanh” là sự kết hợp giữa “làng - đô thị” và “đô thị xanh”. “Làng - đô thị” sẽ cung cấp việc làm cho các hộ nông thôn. Nó đóng góp vào việc tiếp tục cải tạo hệ thống hạ tầng và công nghệ ở vùng nông thôn ngoại thành . Nó tác động tốt tới tình trạng sức khỏe và văn hóa. Nó giúp giảm thiểu sự phân hóa xã hội đi kèm với việc di dân ra thành phố. Nếu được quản lý tốt nó sẽ giúp cho việc bảo vệ môi trường cho cả TP và nông thôn ngoại thành bằng việc phân bố sản xuất và dân cư trên khu vực tương đối rộng. Do vậy các thành phố làm tốt sẽ là các thành phố phát triển được mối quan để hệ thỏa mãn được cả nhu cầu của thành phố và khu vực ngoại thành. Giữ gìn vùng nông thôn, đất nông nghiệp và không gian xanh là chiến lược quan trọng. Vùng nông thôn cũng quan trọng không kém phần khu vực đô thị. Trong quá trình “chuyển đổi nông thôn - đô thị” lĩnh vực BĐS phát triển nhanh và gia tăng cho tương xứng với toàn bộ nền kinh tế thành phố. Ngành sản xuất phụ thuộc vào nông nghiệp truyền thống sẽ trở nên chuyên sâu và được công nghiệp hóa thông qua kỹ thuật mới. Những xí nghiệp nông thôn sẽ phát triển thành những xí nghiệp công nghệ cao đô thị hóa, giảm đi mức độ ô nhiễm nông nghiệp. Xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng những nhu cầu phát triển của vùng ngoại vi. Động lực để phát triển “một hợp nhất nông thôn - đô thị” là đô thị hóa nông thôn song hành với đô thị hóa thành phố, để phát triển những thị trấn thị tứ. Theo kinh nghiệm một số nước, không thể chờ CNH - HĐH mới thúc đầy “đô thị hóa nông thôn” mà phải tiến hành đồng thời với “xây dựng nông thôn mới”, đô thị hóa phải trở thành khâu then chốt phát triển nông thôn. Trong quá trình đô thị hóa, CNH - HĐH là một quá trình làm biến đổi thành phần cơ cấu lao động nông thôn và cơ cấu sử dụng đất. Do vậy “đô thị hóa nông thôn ngoại thành” TP.HCM không thể chờ mà phải gắn với “xây dựng nông thôn mới” để giải quyết 3 vấn đề đang hạn chế nông nghiệp phát triển là: bảo hộ nông nghiệp, HĐH nông nghiệp và thương phẩm hóa nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa nông thôn sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn của đô thị xét về quy mô dân số, cơ cấu lao động và cơ sở hạ tẩng. Các thị trấn, thị tứ công nghiệp - dịch vụ sẽ làm điểm tựa để phát triển khu dân cư nông thôn, giữ vai trò thúc đẩy đô thị hóa nông thôn và quy hoặch các “khu phố nhỏ”. Trong quá trình đô thị hóa nông thôn cần coi trọng công năng tỏa sáng của thành phố trung tâm đối với nông thôn ngoại thành như phát huy tác dụng của trung tâm trao đổi và lưu thông thông tin, tiền vốn và nhân tài, phổ biến văn minh đô thị, kết hợp với chênh lệch địa tô đất đai thành thị - nông thôn. Tuy nhiên thành phố cần tăng cường quản lý vùng giáp ranh để tránh tình trạng phát triển tự phát như tại các huyện Bình Chánh và Hóc Môn hoặc “phân lô hộ lẻ” tràn lan ở ngoại thành và vùng ven (tới 4000 trường hợp). Do vậy cần xác định ranh giới tăng trưởng đô thị (Urban Growth Boundary - UGB) để có cơ sở tăng cường quản lý tăng trưởng đô thị (Urban Growth Management - UGM). Mô hình phát triển vùng ven đô có thể áp dụng mô hình “Tái điều chình đất đai” của Nhật Bản. “Khái niệm cơ bản về điều chỉnh đất đai, có nghĩa là chia sẻ lợi ích và chi phí phát triển một cách công bằng giũa các bên có lợi ích liên quan bao gồm thành phần công cộng là một phương pháp phát triển dân chủ có thể phát huy hiệu quả trong cơ chế thị trường”.Tuy nhiên cở sở để hình thành “một hợp nhất nông thôn - đô thị toàn diện” vẫn phải là “hình thái chùm đô thị”.

Tài liệu tham khảo

  1. Đô thị hôm qua hôm nay và ngày mai_Trương Quang Thao, NXB Xây Dựng,1988
  2. Xu hướng phát triển xã hội là đô thị hóa chứ không phải là nhất thể hóa thành thị và nông thôn_Chu Vĩnh Khôi,1994
  3. Bàn về một số vấn đề đô thị hóa nông thôn_Trương Quốc Thắng, 1994
  4. Tìm tòi con đường đô thị hóa nông thôn mang màu sắc riêng của Trung Quốc_Cao Triều & Trương Lương thực hiện ,1994
  5. Vững vàng công tác, nắm chắc thí điểm, thúc đẩy công cuộc xây dựng thị trấn nhỏ phát triển lành mạnh_Mao Như Bá, 1994
  6. Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996-2020_ Bộ Xây dựng ,8/1996
  7. Quản lý đô thị_ Nguyễn Ngọc Châu,2001
  8. Đô thị hóa khủng hoảng sinh thái & phát triển bền vững_ Nhiều Tác giả, 2001
  9. Đô thị hóa và phát triển bền vững với nguy cơ biến đổi khí hậu_ Nguyễn Đăng Sơn, Tạp chí Người Xây Dựng tháng 5/2011
(Nguồn:Nguyễn Đăng Sơn - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website