Trước làn sóng phát triển đô thị công nghiệp mới

1. Một số góc nhìn về đô thị và nông thôn Trong mỗi vùng lãnh thổ có thể quan sát thấy các khu vực có chức năng, tổ chức không gian - cấu trúc cho hoạt động xã hội và cộng đồng khác nhau. Những nơi đó thường được phân chia dưới dạng“đô thị” và “nông thôn”. Về mặt định nghĩa, “đô thị” để chỉ chỗ thị trấn lớn, còn “nông thôn” chỉ thôn làng và nơi làm ruộng[8]. Trong Luật Quy hoạch đô thị (2009), đô thị chỉ ra các khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp.

Nông thôn, về mặt hành chính, là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã và thị trấn. Nó có đặc điểm - nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định mang nhiều yếu tố tự nhiên.

Gần đây, chúng ta biết thêm về “nông thôn mới” (NTM), hiện chưa rõ định nghĩa, để phân biệt với nông thôn hiện hữu. Về bản chất, đây là mô hình phát triển nhằm đáp ứng các yêu cầu trong: quy hoạch, xây dựng hạ tầng xã hội - kỹ thuật, hoạt động kinh tế và sản xuất, văn hóa, xã hội, môi trường và hệ thống chính trị (theo 19 tiêu chí về NTM tại QĐ 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016).

2. Liên kết “tương tác - đa chiều”

Để xác định nông thôn với đầy đủ các thành phầnthì khó phân biệt rõ ranh giới với thành thị. Không gian giữa nông thôn và thành thị tồn tại mối giao thoa chặt trẽ. Những phân biệt giữa chúng là kết quả từ nhận biết đặc điểm kinh tế, xã hội và sự phát triển từng khu vực. Theo Badouin (1971), nông thôn khác với đô thị bởi mật độ tập trung ở thấp và cụm dân cư bị giới hạn theo quy mô làng xóm. Nếu như nông thôn xem đất đai như một thành tố phục vụ sản xuất nông nghiệp - thì nơi ấy quần thể dân cư và môi trườnghòa quện thống nhất. Còn, Meves (1981) cho rằng mối liên kết đó có xu hướng “tương tác - đa chiều” bởi hoạt động liên quan nông nghiệp làm sợi dây gắn kết với môi trường và phát triển đô thị.

Thực tế cho thấy, đô thị là nơi sử dụng và tiêu thụ các nguồn thực phẩm và tài nguyên (hay) hưởng lợi nhiều từ môi trường nông thôn[8]. Ngược lại, nông thôn luôn tiếp nhận (trực tiếp và gián tiếp) lượng tri thức tiên tiến và thông tin mới phục vụ cho đời sống nhằm cải thiện chính mình ở từng địa phương.

Mặt khác, quỹ đất ở nông thôn rộng lớn trong khi phạm vi thành thị bó hẹp và phát triển nén - tập trung. Về mặt chức năng mà nói, các thành phố là trung tâm kinh doanh, thương mại và dịch vụ đem lại nguồn thu nhập, hấp thụ nguồn lực (tài chính và nhân lực chất lượng cao). Mà ở đó, hiện tượng “dịch cư” đã diễn ra từ (1) nông thôn lên thành thị; (2) thành phố nhỏ đến thành phố lớn và (3) quốc gia đang phát triển tới khu vực phát triển. Đây là những lợi điểm đáp ứng cho một bộ phận xã hội không nhỏ trong độ tuổi lao động với mong muốn thay đổi chất lượng cuộc sống (quality of life). Một mặt nào đó, phát triển đô thị thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sẽảnh hưởng nhất địnhtới thay đổi nông thôn.

Kế đến, dịch cư làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo lao động vốn đang còn lạc hậu theo hướng hiện đại hóa. Vì thế, chính sách phát triển công nghiệp tại đô thị lớn dẫn đến dịch vụ, thương mại phát triển và làm gia tăng hiện tượng di dân từ nông thôn lên thành thị. Điều này vô tình làm giảm nguồn lực; cũng như kìm hãm sự đi lên của khu vực nông thôn.

Từ đó, nông thôn với đặc điểm vùng - miền hình thành nên các không gian đặc trưng, kiểu cách sống - sinh hoạt, hình mẫu tiêu thụ sản phẩm và các giá trị ảnh hưởng và tiếp nhận từ thành thị. Tuy nhiên, khi không gian đô thị quá tải và nảy sinh nhiều vấn đề, nông thôn trở thành “nơi chốn lý tưởng” cho người thành phố - muốn thoát ra khỏi những không gian chật hẹp để hòa mình với thiên nhiên hay gần hơn với cội nguồn của mình. Hiểu một cách khác, đô thị và nông thôn đều là những “không gian đầy hấp dẫn” đến nghỉ ngơi, du lịch và giao lưu, bổ trợ những thiếu khuyết; cũng như, để trở về dành cho mọi người nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống.

Hiện tượng đô thị hóa (ĐTH) cho thấy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa (CNH và HĐH), ban đầu từ các điểm, khu vực nông thôn có tiềm năng, cơ hội phát triển nông nghiệp; rồi dần dịch chuyển phương thức hoạt động nông nghiệp truyền thống bằng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) và dịch vụ. ĐTH diễn ra ở tất cả các cấp độ, đòi hỏi nhu cầu hàng hóa tiêu dùng (nhiều hơn về số lượng và tốt hơn về chất lượng) và xem như thành quả của công cuộc chuyển dịch cơ cấu và thành phần kinh tế tại địa phương.

ĐTH không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư mà còn làm chuyển hóa các mặt đời sống xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn. Quá trình ĐTH còn tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống cư dân ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng ven đô. Các vùng ven đô dường như là vùng đệm cho bước chuyển từ nông thôn sang thành thị; nơi đó phản ánh rõ nét những ảnh hưởng của quá trình ĐTH đối với nông thôn[7].

HĐH làng xóm, về mặt xã hội học, cho thấy quá trình đô thị hóa diễn ra ở khu vực nông thôn qua quá trình CNH nông nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra chậm ở Việt Nam bởi việc sử dụng công nghệ và thiết bị còn hạn chế, nên khó có thể đáp ứng nhu cầu mới hiện nay. Bên cạnh đó, ĐTH làm thay đổi cơ bản nhịp sống, cơ cấu xã hội và các mối quan hệ xã hội ở nông thôn. Có những thay đổi làm cho đô thị và nông thôn xích lại gần nhau hơn [7] hoặc ngược lại, đẩy nông thôn ra xa hơn dẫn đến nhiều hệ lụy cần giải quyết để nông thôn có thể phát triển bền vững.

3. Xu hướng phát triển đô thị công nghiệp mới

Thực tế, mối liên kết  đô thị và nông thôn đan xen phức tạp nhiều mặt theo từng vùng miền và khu vực. Qua hơn 20 năm phát triển đô thị mới (ĐTM) ở Việt Nam, hiện có khoảng 800 khu ĐTM (chỉ tính các khu có quy mô từ 20ha trở lên), trong đó gồm 15 khu có quy mô trên 1000ha, 94 khu từ 200-1000ha [2]. Số lượng ĐTM ngày càng tăng, đa dạng về mô hình, chất lượng dịch vụ, hạ tầng xã hội và kỹ thuật. Một số dự án nổi bật của Vinhomes: Central Park, Riverside; Gamuda Garden và Celadon City… hiện đáp ứng hai thành phần chính (1) nơi ở và (2) dịch vụ được xem như “đô thị ở đơn thuần”  mà chỉ khác nhau về tên gọi hay loại hình sản phẩm công trình.

Sau xu hướng ĐTM trên, làn sóng đô thị gần đây dần chuyển sang đô thị quy mô rất lớn và phát triển toàn diện hơntrong vòng 15-30 năm. Về quy mô, sau ĐTM Phú Mỹ Hưng (750ha, 5 cụm đô thị) và Linh Đàm (200ha), mô hình đô thị công nghiệp mới quy mô hàng ngàn (2000-6000) hecta được các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực thúc đẩy, đặc biệt khu vực lân cận các thành phố lớn. Trong bán kính phục vụ khoảng 30- 60km so với trung tâm TP.Hà Nội và TP.HCM, thế hệ “thành phố mới” kết hợp “hoạt động công nghiệp” hướng tới việc hoàn thiện và cân bằng giữa 3 thành tố chính: “dịch vụ - nơi ở - làm việc” tại các khu vực có tiềm năng về quỹ đất, nền tảng công nghiệp và hạ tầng kết nối thuận lợi. Mặc dù trước đó, khái niệm thành phố công nghiệp đã được Le Corbusier (1942) đề cập khá sớm: thành phố hình thành theo chuỗi và dải, sử dụng cây xanh cách ly giữa khu công nghiệp và khu ở.

Ở nhiều nước trên thế giới, thành phố công nghiệp đóng góp cho sự phát triển của cả vùng và quốc gia rất lớn. Một trong nhiều ví dụ cho thấy, thành phố công nghiệp mới Cố An (Gu’an) (cách Bắc Kinh khoảng 50km, Trung Quốc), phát triển gần đây, đã thay đổi một xã hội nông nghiệp truyền thống trở thành một thành phố công nghiệp thông minh theo hướng sáng tạo, bền vững, đáng sống và môi trường kinh doanh thân thiện [12]. Trong năm 2015, thành phố đã đem lại lợi nhuận lên tới 88,4 triệu đô la Mỹ và tăng thêm những năm tới.

Với làn sóng thành phố công nghiệp mới, tốc độ phát triển và đô thị hóa vùng xung quanh và bản thân các đô thị trung tâm sẽ nhanh hơn và làm gia tăng khoảng cách không gian (vật thể và phi vật thể) giữa thành thị và nông thôn thời gian tới nếu thiếu biện pháp cấp bách thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn.

Chính vì thế, CNH hoạt động nông nghiệp được xem như giải pháp thúc đẩy quá trình phát triển nông thôn nhanh hơn. Trong đó phát triển CN-TTCN tại địa phương làm động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động trong và ngoài vùng; đồng thời, nâng cao năng lực cho các nhà quản lý địa phương. HĐH hệ kết cấu hạ tầng, cung cấp hàng hóa tiêu dùng - ưu tiên hàng nội địa và xuất khẩu hàng hóa từ các hoạt động ngành nghề truyền thống. Từ đó, thu hút vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp - kinh tế và xã hội. Hơn nữa, các vùng dần chuyển đổi nhận thức sang hướng phát triển nông thôn, điểm dân cư, thị trấn và thị tứ. Các hình thức dân cư này được xem như bước chuyển đổi trước khi trở thành một đô thị (hay) đơn vị hành chính Nhà nước.

Trước tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư ngoại quốc vào đô thị công nghiệp mới hướng tới đối tượng có nhu cầu thực (end-user) gắn với phát triển công nghiệp sạch; thì khu vực nông thôn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức sẽ dẫn đến mối liên kết tương tác đô thị và nông thôn trở nên “mong manh và phân cấp mạnh”. Chính vì vậy, để thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian giữa đô thị công nghiệp mới và nông thôn, các dự án đô thị mới nói chung, đô thị công nghiệp mới nói riêng cần phải được tính toán và gắn kết với phát triển vùng nông thôn lân cận nhằm đảm bảo tác động qua lại tích cực và giảm thiểu tối đa tiêu cực.

Từ những phân tích trên, các cấp chính quyền cần quan tâm và tăng cường mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn như:

  • Nhận diện rõ ràng hơn về mặt địa giới hành chính nội - ngoại thị.
  • Hướng tới các chiến lược phát triển tại chỗvà đa dạng hóa các loại hình kinh tế nông nghiệp.
  • Xây dựng hệ thống quản lý nguồn lực hiệu quả và bền vững.
  • Cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ công, tăng cường năng lực cộng đồng địa phương và hợp tác dựa trên các dựán phát triển.
  • Kế hoạch hành động (cụ thể) phù hợp trước xu thế phát triển đô thị công nghiệp mới.

4. Thay cho lời kết

Nhận thức rõ tầm quan trọng của đô thị và nông thôn, mối liên kết đa chiều - tương hỗ sẽ làm cơ sở cho các nhà quản lý giải quyết các bài toán khoảng cách “không gian - thời gian” giữa thành thị và nông thôn. Mô hình đô thị ở đơn thuần đã dần qua và làn sóng xu hướng đô thị công nghiệp mới (quy mô lớn, xung quanh các thành phố trung tâm) đang tới sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp khu vực nông thôn. Vì thế, việc thu hẹp khoảng cách giữa đô thị (công nghiệp) mới và nông thôn cần đặc biệt quan tâm và thêm chính sách thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững hơn.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Quyết định 1980/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn mới 2016- 2020, ngày 17/10/2016.

[2]. Lê Xuân Trường (2016), Quy hoạch xây dựng khu đô thị mới- bài toán cư trú và phát triển đô thị. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. Kiến trúc Việt Nam Online. Internet: kientrucvietnam.org.vn

[3]. Jana Z, Thomas W, Christian S, Nadin G (2012).,Analyzing and governing urban- rural relations. Hội thảo Sustaining Regional Futures: Regional Studies Association Global Conference 2012, Tại Bắc Kinh, Trung Quốc.

[4]. Laura M, Elena M, Matei V (2011)., Dynamics of Rural- Urban Relations in Urbanization Context. Tạp chí Economia. Seria Management, Vol 14, Issue 2, 2011.

[5]. Công văn số 10/BXD-PTĐT về việc giải thích khái niệm “thị trấn, thị tứ” trong các văn bản của Nhà nước, ngày 15/6/2010.

[6]. Mcrit (2010)., Urban and Rural Narratives and Spatial Development Trends in Europe. Barcelona, Spain.

[7]. Nguyễn Hữu Minh (2003)., Đô thị hóa và sự phát triển nông thôn ở Việt Nam- Một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu. Tạp chí Xã hội học số 3 (83), 2003.

[8]. Stead, D (2002)., Urban- Rual Relationships in the West of England. Trong tạp chí Built Environment 28 (4).

[9]. Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh (2000), Từ điển Tiếng Việt. NXB Thanh niên.

[10]. Meves, E (1981)., Relatia Agrar- Agricol-Rural. EdituraTerra Nostra, Bucharest.

[11]. Badouin, R (1971).. Economie Rurala, Editure Armand Colin, Bucharest.

[12]. Gu’an New Industrial City (2017), Internet: en.cfldcn.com

(Nguồn:TS. KTS Ngô Minh Hùng - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website