Phát triển đô thị - cao độ xây dựng dưới góc nhìn đa chiều

1. Bối cảnh chung và chiều cao không gian đô thị Trong quá trình hình thành đô thị, nhiều thành phố trên thế giới đã và đang phát triển theomô hình không gian “trải rộng - ngang” và “nén tập trung - đứng” cho từng khu vực, cụm và điểm.

Tuy nhiên, không ít trong số đó có quỹ đất dự trữ eo hẹp trước nhu cầu phát triển rộng lớn. Singapore, 1 Quốc gia: 1 Thành phố, là trường hợp điển hình - với đặc điểm bình địa phong phú, luôn tìm cách tối ưu hóa cao độ địa hình từng nơi chốnđể kiến tạo nên “Thành phố vườn”, nén - tập trung cao theo chiều thẳng đứng, với tầng - lớp không gian xanh - sinh thái bậc nhất khu vực. Dưới góc nhìn khác, tổ hợp chiều cao đô thị nơi đây được tạo dựng bởi chiều cao không gian tự nhiên (thiên nhiên, vốn có) và chiều cao không gian nhân tạo (cao độ nền, chiều cao bản thân công trình và các vật thể kiến trúc).

Ngược lại, ở các quốc gia có quỹ đất rộng hơn như chúng ta, thành phố phản ánh đặc điểm: phát triển dàn trải - thấp tầng, độ nén đô thị trung bình, tạo nên các hình thái đô thị riêng biệt. Từ đó cho thấy, sự tiếp biến giữa chiều cao đô thị với các thành phần kiến trúc, nền xây dựng có phần mềm dẻo và linh hoạt hơn. Do vậy, cao độ xây dựng công trình được xem như là một trong năm thành tố cơ bản, mà Kevin Lynch (1960) đã từng nhấn mạnh: điểm, tuyến, cụm, biên và mảng, làm gia tăng giá trị không gian kiến trúc cảnh quan đô thị khi được vận dụng khéo léo tương thích. Về mặt kỹ thuật đô thị, cốt nền xây dựng là cơ sở xác định độ cao, hướng dốc và độ dốc nền cho phát triển giao thông, thoát nước tốt,bảo vệ công trình được xây dựng, kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Thêm nữa, trong quy hoạch đô thị (QHĐT) cũng đã xác định cao độ nền xây dựng cho từng khu vực và trục đường chính (hoặc) toàn đô thị.

Thực tế, QHĐT và quy hoạch chuyên ngành (tỷ lệ 1:10.000 ÷ 1:500) đã phủ rộng khắp các đô thị trên cả nước, được cơ quan chức năng có thẩm quyền phê duyệt để trở thành cơ sở trong quản lý phát triển đô thị nói chung và xây dựng công trình cụ thể nói riêng. Tuy nhiên, quá trình áp dụng phản ánh: các quy định kỹ thuật (gồm cốt nền xây dựng, chiều cao công trình) đã bị phá vỡ bởi nhiều nguyên nhân như: vẫn còn thiếu hệ cốt quy chiếu chuẩn (giữa khu vực đô thị cũ- mới); quy hoạch chuyên ngành chưa đồng bộ dẫn đến độ vênh và ít chú trọng đến cao độ xây dựng đã làm nảy sinh nhiều bất cập khi nâng cấp mạng lưới hạ tầng đô thị; rồi, sự chống chéo trong quản lý ngành (giao thông, xây dựng và thủy lợi…) đã làm méo mó hình ảnh đô thị một cách đáng tiếc.

Bên cạnh đó, tâm lý “hơn - kém” của các chủ đầu tư (CĐT) công trình xây dựng khiến cho cốt nền dự án sau có xu hướng “cao hơn” dự án trước ở nhiều nơi. Đứng trước hiện tượng gia tăng chiều cao đô thị là sự “lúng túng” của các nhà quản lý và chính người dân trong việc định ra đâu là “cốt nền chuẩn” cho dự án ở tình thế cụ thể - bởi thiếu căn cứ pháp lý và nguồn thông tin “kỹ thuật chuyên ngành” chính thống và tin cậy.

2. Lối tư duy “cục bộ bản địa- thực dụng”

Đi sâu vào các trường hợp cụ thể ở Tp Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai và Vũng Tàu chỉ ra, bản thân CĐT khi triển khai dự án chưa thực sự chú tâm đến cốt nền xây dựng và chưa lường hết ảnh hưởng từ việc vận dụng sai cốt nền bởi những toan tính trước mắt về lợi nhuận - kinh doanh - tốc độ dự án nhằm nắm bắt lợi thế cạnh tranh. Vì thế tại mỗi địa phương, lối tư duy cục bộ dự án của mình là dễ hiểu nên họ ít - nhiều bỏ qua tính phối - kết hợp với hệ thống cốt nền xây dựng,hạ tầng kỹ thuật chung và khu vực lân cận. Với cách nhìn phiến diện - ngắn hạn có phần thực dụng một cách triệt - “không phải sân sau của mình” (not in my back yard, NIMBY) - đã dẫn đến hiện tượng đùn đẩy các vấn đề môi trường đô thị (thoát nước, rác thải và ngập úng) ra khỏi tầm kiểm soát, biến nỗi lo riêng thành chung của xã hội. Thêm nữa, việc nâng cốt xây dựng các dự án chuyên ngành có tính “độc quyền” (giao thông, hạ tầng đô thị, nhà ở…) hơn so với quy hoạch đô thị được duyệt ở một số nơi đã làm úng lụt và gây không ít phiền toái cho cộng đồng và địa phương.

3. “Thích nghi mềm” trước Khung luật định cứng

Nhu cầu xây dựng công trình hàng năm tại các đô thị là rất lớn, phát xuất từ nhu cầu thiết yếu của các CĐT nhằm phục vụ mục đích sử dụng khác nhau. Trong đô thị, việc thưc hiện các dự án, xây dựng công trình đều phải xin phép theo luật định. Tuy nhiên, mong muốn và mục tiêu của CĐT thường vô hạn và khó chiều trong khi khung pháp định (mật độ xây dựng, chiều cao, tầng cao, chức năng, hình thức kiến trúc, cốt nền xây dựng) là hữu hạn. Hiểu cách khác, khung quy định cứng là “barrier” - hàng rào kiểm soát hoạt động xây dựng và phát triển đô thị của các nhà quản lý đô thị.

Trước những hàng rào kiểm soát cứng, các CĐT (với lối tư doanh nhanh - nhạy và kinh nghiệm) nhận ra cách thức “xé rào” trong “xây dựng cơ bản không còn phù hợp” bởi sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Những lỗi vi phạm (tôn và nâng nền công trình tự phát) cho thấy mong muốn của CĐT vượt xa với tính toán của các nhà hoạch định đô thị. Tuy nhiên, để giải quyết bài toán đầu tư, CĐT đã ứng xử theo chiều sâu nhằm mở “barrier” cứng một cách khéo léo (khi cần) cho quyết tâm thực hiện dự án. Điều này được ngầm hiểu khả năng mở rào cho một số rất ít và đóng kín với đa số trong lĩnh vực xây dựng. Với hiện tượng “đóng-mở” hàng rào, quy định kiểm soát cốt nền xây dựng trở thành thứ yếu và khó đáp ứng yêu cầu thực tế khiến các nhà quản lý đô thị buộc phải chiều lòng các nhà đầu tư.

4. Xu hướng quản lý cao độ (cốt nền) xây dựng

Cho đến nay, nhận thấy vấn đề về cốt nền xây dựng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị liên quan trực tiếp tới tình trạng ngập lụt tại các khu vực đô thị hóa mạnh (như quận Bình Chánh, Thủ Đức, quận 7 và 12) ngày càng diễn biến phức tạp, TP.HCM đã khẩn trương xây dựng chương trình quản lý bằng công nghệ trên cơ sở hình thành các lớp bản đồ thông tin quản lý đô thị (đất đai-xây dựng, quy hoạch, tài nguyên-môi trường và giao thông vận tải…) đến năm 2020 (QĐ 3845/QĐ-UBND, ngày 8/8/2014). Bằng việc xác định và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho phép nâng cao công tác quản lý đô thị nói chung; cao độ và tọa độ nói riêng; đồng thời công khai - minh bạch hóa thông tin xây dựng cho doanh nghiệp và người dân giai đoạn tới.

          Trong đó, dữ liệu quan trọng liên quan đến cao độ xây dựng được nhấn mạnh, bao gồm: nhóm dữ liệu về - điểm khống chế tọa độ và độ cao, quy hoạch đô thị và nông thôn, giao thông và thủy hệ (hình 1). Song song, hệ thống dữ liệu về xây dựng - phát triển đô thị (hình 2) được thiết kế hàm chứa dữ liệu hệ thống hạ tầng, địa hình và độ cao, quy hoạch và giao thông...

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu trên là bước đi mang tính đột phá mới của thành phố và sẽ từng bước thông tin đầy đủ hơn cho cộng đồng dễ dàng tiếp cận với số liệu cốt xây dựng cần thiết; đồng thời, dự báo những khu vực có nguy cơ ngập lụt có hệ thống để từ đó định vị quá trình phát triển đô thị phù hợp với địa hình và không gian cảnh quan chung.

Nhìn xa hơn tại các nước phát triển, cốt nền xây dựng công trình được nhìn nhận thông qua mô hình “bản đồ rủi ro ngập lụt” (flood hazard maps [hay] Flood Insurance Rate Maps [FIRM]) đã từng được áp dụng cho tất cả các khu vực ở Mỹ - là một ví dụ điển hình, cho phép cảnh báo, chỉ ra những phạm vi và ranh giới có khả năng ngập lụt, triều cường và các rủi ro khác. Tiến đến là việc số hóa hệ thống bản đồ ngập lụt (Digital Flood Insurance Rate Maps [DFIRM]) nhằm phổ biến và giúp cho cộng đồng tương tác trực tuyến - chính xác qua internet một cách dễ dàng.

Bằng công cụ FIRM và phổ rộng DFIRM về tình trạng cốt nền cao - thấp, dự báo và thời gian ngập lụt tại các khu vực, chủ đầu tư và cộng đồng theo dõi, giám sát và sớm nhận biết trước các tình trạng - điều kiện khu vực trong và ngoài đô thị tương lai (VD: triều cường, khả năng rút nước, ranh đất trũng ngập) để có quyết sách, giải pháp công trình tương ứng (nâng cao - hạ thấp trên cơ sở hướng dẫn chi tiết, cụ thể của các cơ quan chuyên môn) sao cho phù hợp với địa chất - địa hình, thống nhất và đồng bộ hóa theo từng khu - lưu vực.

Về mặt chính quyền đô thị, công tác quản lý cốt nền xây dựng cần tiếp tục nâng cao, tập trung từ các khâu thiết kế quy hoạch chiều cao và thống nhất hóa ngay từ giai đoạn lập quy hoạch đô thị nhằm định vị “cốt nền chuẩn” chi tiết và cụ thể hơn. Thêm nữa, tăng cường công tác quản lý xét duyệt thiết kế quy hoạch chiều cao; song song, quản lý chặt trẽ xây dựng theo quy hoạch được duyệt tại các đô thị hiện hữu (hay) đô thị mới và các khu vực giáp ranh có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh.

6. Thay cho lời kết

Phát triển đô thị bền vững đòi hỏi sự quan tâm ngày càng chuyên sâu hơn tới nhiều thành phần, cụ thể là chiều cao không gian đô thị và cốt nền xây dựng. Về mặt quản lý đô thị theo quy hoạch, hệ thống cốt nền xây dựng đã được xác định, song công tác triển khai thực tế còn bất cập trước nhu cầu xây dựng gia tăng của xã hội. Vì thế, xu hướng áp dụng công nghệ thông tin (GIS), (hay) công cụ FIRM và DFIRM sẽ từng bước giúp các nhà quản lý đô thị, CĐT và người dân dễ dàng tiếp cận nguồn thông tin về cao độ xây dựng để đưa ra các giải pháp kinh tế- xây dựng tối ưu, tuân thủ chặt trẽ các quy định xây dựng của Nhà nước trước và lâu dài.

(Nguồn:TS. KTS Ngô Minh Hùng - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 88))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website