Quy hoạch cao độ nền đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội

Công tác chuẩn bị kỹ thuật đất xây dựng, trong đó có công tác quy hoạch chiều cao nền (cốt nền xây dựng) là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đô thị. Trong những năm vừa qua, Thủ đô Hà Nội đã rất quan tâm đến công tác quy hoạch chiều cao nền xây dựng.

Liên quan chặt chẽ với quy hoạch chiều cao là quy hoạch hệ thống thoát nước mưa. Ngày 10/5/2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 725/QĐ-TTg. Trong bài viết này, giới thiệu quy hoạch chiều cao nền theo Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội, giới hạn trong phạm vi Đô thị trung tâm (vành đai 4 trở vào).

Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, hệ thống thoát nước được tiêu vào các sông chính bên ngoài như sông Hồng, Sông Đuống, sông Đáy… Do vậy, để thuận lợi cho tiêu thoát lũ, nhất là để chủ động tiêu cho các vùng thượng lưu sông thuộc Hà Nội, giải pháp quy hoạch tiêu thoát lũ vùng là chuyển hướng tiêu từ sông nội đồng sang các sông chính:

  • Đối với vùng tiêu Tả Đáy - sông Nhuệ: phần thượng lưu sông Nhuệ - đoạn từ đập Liên Mạc (sông Hồng) đến đập Hà Đông - sẽ được tách ra tiêu độc lập bằng bơm cưỡng bức toàn bộ ra sông Hồng và sông Đáy, phần hạ lưu sông Nhuệ (sau đập Hà Đông) sẽ duy trì tiêu tự chảy về phía Hà Nam và bơm cưỡng bức vào sông Đáy.
  • Đối với vùng tiêu Bắc Hà Nội:
    • Khu vực Đông Anh và một phần Mê Linh tiêu thoát lũ phụ thuộc vào sông Ngũ Huyện Khê chảy về phía Bắc Ninh. Khi có mưa lớn, mực nước sông phía hạ lưu (Bắc Ninh) lên rất cao gây khó khăn cho tiêu thoát khu vực phía thượng lưu thuộc Hà Nội. Giải pháp quy hoạch lâu dài là xây dựng đập ngăn trên sông tại ranh giới Hà Nội và Bắc Ninh, khi đó tiêu thoát nước cho Hà Nội sẽ thực hiện bằng bơm cưỡng bức ra sông Hồng.
    • Khu vực Long Biên – Gia Lâm tiêu thoát lũ phụ thuộc vào sông Bắc Hưng Hải chảy về phía Hưng Yên, Hải Dương. Tương tự như trên, giải pháp quy hoạch là tách rời lưu vực Long Biên, Gia Lâm xây dựng mới các trạm bơm tiêu cưỡng bức phục vụ tiêu thoát trực tiếp ra sông Hồng.

Cụ thể các lưu vực trong Đô thị trung tâm như sau:

  1. Lưu vực Tô Lịch (tiêu trực tiếp ra sông Hồng)
  2. Phạm vi lưu vực: phía Bắc và phía Đông giáp với đê sông Hồng, phía Tây giáp với sông Tô Lịch và một phần dải hẹp dọc phía bờ hữu sông có thể tự chảy vào sông Tô Lịch, phía Nam là hồ Linh Đàm, Yên Sở.
  3. Lưu vực sông Tô Lịch diện tích 7.750 ha bao gồm 7 tiểu lưu vực là Hồ Tây, Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu, Hoàng Liệt, Yên Sở.
  4. Hướng thoát nước: khi mực nước sông Nhuệ tại hạ lưu đập Thanh Liệt thấp <+4,5m, toàn bộ lưu vực này đều thoát tự chảy ra sông Nhuệ với tổng lưu lượng xả cho phép vào sông Nhuệ là 80m3/s (~hệ số tiêu 5,91 l/s-ha); Khi mực nước sông Nhuệ cao > +4,5m, phải tiêu bằng động lực thông qua cụm trạm bơm Yên Sở vào sông Hồng.
  5. Hệ thống thoát nước chính lưu vực sông Tô Lịch gồm có các hồ điều hoà Yên Sở, Linh Đàm, Định Công và 18 hồ (là những hồ có tham gia vào hệ thống thoát nước), các trục tiêu chính là sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét. Trạm bơm Yên Sở công suất là 90m3/s.
  6. Quy hoạch thoát nước Hà Nội (JICA lập năm 1995) và Dự án cải tạo môi trường Hà Nội - Dự án II đã tính toán với hệ thống các công trình đầu mối thoát nước cho lưu vực sông Tô Lịch như trên đã đảm bảo tiêu thoát nước với trận mưa 310mm/2 ngày và cho lưu lượng dòng chảy đến 174m3/s.
    1. Lưu vực Đông Mỹ (tiêu trực tiếp ra sông Hồng)
  7. Phạm vi lưu vực: phía Bắc là sông hạ lưu Kim Ngưu giáp lưu vực Tô Lịch, phía Nam giáp đường vành đai 4, phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây hạ lưu sông Tô lịch và đường sắt Bắc - Nam, có diện tích lưu vực thoát nước khoảng 2010ha, với hầu hết diện tích thuộc địa bàn huyện Thanh Trì (các xã: Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Đông Mỹ; một phần các xã Vĩnh Quỳnh, Ngọc Hồi, Liên Ninh và thị trấn Văn Điển). Hiện nay trạm bơm tiêu Đông Mỹ của lưu vực này có công suất là 7,33m3/s (không có công suất dự phòng).
  8. Hướng thoát nước: tiêu tự chảy ra sông Nhuệ qua sông Om và tiêu cưỡng bức ra sông Hồng bằng TB Đông Mỹ.
  9. Chế độ hoạt động: Khi mực nước tại sông Nhuệ < 5m thì hệ thống sẽ tiêu tự chảy ra sông Nhuệ qua sông Om và khi mực nước tại sông Nhuệ cao hơn, để giảm lưu lượng nước đổ về sông Nhuệ thì toàn bộ lưu vực này sẽ được tiêu cưỡng bức ra sông Hồng bằng TB Đông Mỹ thông qua hệ thống kênh Đông Trì-Đông Mỹ (dài 6.0km, nâng cấp cải tạo BxH=22x4,5m), sông Om (dài 15,45km, cải tạo nâng cấp BxH=20x5,0m), kênh Đông Mỹ-Vạn Phúc (dài 1,65km, nâng cấp cải tạo BxH=22x3,5m).
    1. Lưu vực Tả Nhuệ (tiêu trực tiếp ra sông Nhuệ, sông Hồng)
  10. Phạm vi lưu vực Tả Nhuệ: phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp đường vành đai 4, phía Đông giáp lưu vực Đông Mỹ, phía Nam giáp sông Nhuệ, có diện tích lưu vực thoát nước là 5.790ha bao gồm 5 tiểu lưu vực là Nam Thăng Long, Cổ Nhuế, Mỹ Đình, Mễ Trì, Ba Xã và 01 tiểu lưu vực Tả Thanh Oai diện tích 4.101ha.
  11. Hướng thoát nước: các tiểu lưu vực Cổ Nhuế, Mỹ Đình, Mễ Trì, Ba Xã và Tả Thanh Oai tiêu vào sông Nhuệ, riêng tiểu lưu vực Nam Thăng Long với diện tích 450ha được tách ra để tiêu trực tiếp ra sông Hồng bằng trạm bơm Nam Thăng Long công suất 9m3/s).
  12. Đối với các tiểu lưu vực nằm phía trên đập Hà Đông gồm có Cổ Nhuế, Mỹ Đình, Mễ Trì: khi mực nước tại sông Nhuệ <+5m thì hệ thống sẽ tiêu tự chảy ra sông Nhuệ và khi mực nước tại sông Nhuệ cao hơn, toàn bộ lưu vực này sẽ được tiêu cưỡng bức ra sông Nhuệ
  13. Đối với tiểu lưu vực nằm phía dưới đập Hà Đông là Ba Xã và Tả Thanh Oai: Đây là hai lưu vực tiêu vào sông Nhuệ đoạn dưới cống Hà Đông, mức nước sông Nhuệ cao hơn +5,0m nên các lưu vực không thể thoát nước tự chảy vào sông Nhuệ. Đề thoát nước cho lưu vực Ba Xã, dự kiến xây dựng trạm bơm Ba Xã có công suất 20m3/s, trạm bơm kết hợp với hồ Thanh Liệt nhằm đảm bảo mức nước cao nhất trên hồ Thanh Liệt không vượt quá cao độ +4,5m. Đề xuất cải tạo và nâng công suất các trạm bơm thủy lợi hiện có là Hòa Bình, Siêu Quần và Đại Áng tiêu thoát nước cho lưu vực Tả Thanh Oai.
    1. Lưu vực Hữu Nhuệ - Tả Đáy
  14. Phạm vi lưu vực Hữu Nhuệ - Tả Đáy: phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp đê Tả sông Đáy, phía đông giáp sông Nhuệ, phía Tây giáp sông Đáy thuộc Hà Đông, Từ Liêm, Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì, có tổng diện tích là 17.714ha bao gồm 6 tiểu lưu vực là sông Đăm, sông Pheo, Đào Nguyên, Cầu Ngà, Yên Nghĩa và Khe Tang.
  15. Hướng thoát nước: theo các hướng vào sông Nhuệ, sông Hồng và sông Đáy. Khi mực nước sông Nhuệ tại đập Hà Đông ≤ +5,0m tiêu nước bằng tự chảy, khi mực nước cao hơn +5,0m tiêu nước bằng động lực ra các sông Hồng, Đáy, Nhuệ.
  16. Giải pháp tiêu thoát nước cơ bản là phân vùng tiêu: các tiểu lưu vực phía trên đập Hà Đông (gồm có sông Pheo, sông Đăm, Đào Nguyên, Cầu Ngà, Yên Nghĩa) và tiểu lưu vực phía hạ lưu đập Hà Đông là tiêu lưu vực Khe Tang được ngăn bằng đập Hà Đông trên sông Nhuệ và được tiêu thoát nước độc lập với nhau. Khi mực nước sông Nhuệ cao hơn +5,0m, các tiểu lưu vực phía trên đập Hà Đông sẽ tiêu toàn bộ bằng cưỡng bức ra sông Hồng và sông Đáy; tiểu lưu vực Khe Tang phía hạ lưu đập Hà Đông sẽ tiêu vào sông Nhuệ và sông Đáy.
  17. Mức nước khống chế: Các tiểu lưu vực Sông Pheo, sông Đăm, Yên Nghĩa, Cầu Ngà và Đào Nguyên thuộc lưu vực thoát nước tự chảy vào sông Nhuệ đoạn Liên Mạc-Hà Đông khi mức nước sông Nhuệ thấp và được thoát nước cưỡng bức ra sông Hồng và sông Đáy khi mức nước sông Nhuệ cao. Mức nước cao nhất khống chế tại hạ lưu cống Liên Mạc và thượng lưu cống Hà Đông được xác định là +5,0m; mức nước cao nhất khống chế trước trạm bơm Liên Trung là +6,0m; trước trạm bơm Yên Thái là +5,0m; trước trạm bơm Đào Nguyên là +4,9m và trước trạm bơm Yên Nghĩa là +4,5m.
    1. Lưu vực Long Biên - Gia Lâm
  1. Lưu vực Long Biên - Gia Lâm (Nam sông Đuống)
    • Phạm vi lưu vực: bao gồm toàn bộ địa giới đô thị quận Long Biên và một phần huyện Gia Lâm, phần diện tích nằm trong đê Tả sông Hồng và đê Hữu sông Đuống. Phía Đông Bắc giáp với đê Hữu sông Đuống, phía Tây Bắc và Tây giáp đê Hữu sông Hồng và phía đông giáp với sông Bắc Hưng Hải với tổng diện tích lưu vực là 9.229ha, được chia ra làm 6 tiểu lưu vực thoát nước là Gia Thượng và Cự Khối thuộc Long Biên, Xuân Thủy, Đông Dư, Bắc Hưng Hải và sông Giàng thuộc Gia Lâm.
    • Đối với khu tiêu Long Biên, khi mực nước trên sông Bắc Hưng Hải tại cống Xuân Quan <+3,0m thì hệ thống sẽ tiêu tự chảy ra sông Cầu Bây và vào sông Bắc Hưng Hải. Khi mực nước trên đạp Thạch Bàn cao hơn +3,0m, toàn bộ khu vực này sẽ được phân lại lưu vực tiêu để bơm cưỡng bức ra sông như sau: hai tiểu lưu vực là Gia Thượng và Cự Khối sẽ được tiêu thoát bằng bơm ra sông Đuống và sông Hồng bằng trạm bơm Gia Thượng và trạm bơm Cự Khối.
    • Lưu vực Đông Dư và lưu vực Xuân Thủy: Khi mực nước sông Bắc Hưng Hải thấp hơn 3m, lưu vực tự chảy vào kênh dẫn thoát ra sông Cầu Bây. Khi mức nước sông Bắc Hưng Hải cao trên +3,0m, lưu vực Đông Dư thoát động lực ra sông Hồng bằng trạm bơm Đông Dư, lưu vực Xuân Thủy thoát động lực ra sông bắc Hưng Hải bằng trạm bơm Xuân Thủy.
    • Lưu vực Bắc Hưng Hải và Sông Giàng: Tiêu thoát nước tự chảy ra sông Bắc Hưng Hải bằng kênh thoát nước và sông Giàng nối trực tiếp với sông Bắc Hưng Hải.
  2. Lưu vực Gia Lâm (Bắc sông Đuống)
    • Phạm vi lưu vực: Bao gồm địa giới hành chính huyện Gia Lâm nằm phía Bắc sông Đuống, được chia thành 2 tiểu lưu vực có tổng diện tích là khoảng 2363ha.
    • Hướng thoát nước: Lưu vực thoát nước tự chảy vào các kênh dẫn nối với sông Tào Khê và thoát về hạ lưu thuộc Bắc Ninh. Khi mưa lớn, cửa cống trên sông Tào Khê nằm giữa ranh giới Hà Nội và Bắc Ninh được đóng lại, lưu vực được thoát nước động lực bằng các trạm bơm ra sông Đuống.
    • Mực nước khống chế: Mực nước cao nhất khống chế hồ trước trạm bơm là +6,0m; mức nước duy trì thông thường tại hệ thống kênh mương thoát nước là +4,0m.
      1. Lưu vực Đông Anh
    • Lưu vực đô thị Đông Anh có tổng diện tích tiêu là 18.590 ha, bao gồm 4 tiểu lưu vực là Vân Trì-Vĩnh Thanh (V), Tây Bắc Đông Anh (Cà Lồ 2-LO2) và Đông Bắc Đông Anh (Cà Lồ 3-LO3) và Cổ Loa (CL),.
    • Trong đó, 02 tiểu lưu vực Tây Bắc Đông Anh và Đông Bắc Đông Anh phía bắc đường sắt tiêu ra sông Cà Lồ.
    • Các tiểu lưu vực còn lại phía nam đường sắt: phần tiêu ra sông Thiếp, Ngũ Huyện Khê: khi mực nước tại cống Cổ Loa thấp hơn +6,5m tiêu tự chảy ra sông Ngũ Huyện Khê, khi mực nước cao hơn sẽ bơm cưỡng bức ra sông Hồng, Ngũ Huyện Khê (nhưng gây ảnh hưởng ngập vùng hạ lưu phía Bắc Ninh).
    • Để giảm thiểu ảnh hưởng vùng hạ lưu và chủ động tiêu, quy hoạch xây dựng mới trạm bơm Vĩnh Thanh 35m3/s, cùng với trạm bơm Cổ Điển công suất 20m3/s và trạm bơm Phương Trạch 46,5m3/s có nhiệm vụ tiêu nước triệt để ra sông Hồng. Đề xuất cao độ mức nước thông thường trên hệ thống là +5,0m; cao độ mức nước thông thường tại các hồ điều hòa trạm bơm Cổ Điển, Phương Trạch và Vĩnh Thanh là +4,5m; Cao độ mức nước cao nhất khống chế tại các hồ điều hòa trạm bơm Cổ Điển, Phương Trạch và Vĩnh Thanh là +6,25m.
    • Đối với lưu vực phục vụ của trạm bơm Long Tửu, trong giai đoạn đến năm 2020, khi lưu vực không thể thoát nước tự chảy vào sông Ngũ Huyện Khê, lưu vực được thoát nước động lực vào sông Ngũ Huyện Khê bằng các trạm bơm tiêu thủy lợi gồm các trạm bơm Thạc Quả, Lộc Hà Tây, Lộc Hà Đông, Đồng Dầu, Xuân Trạch, Lại Đà. Giai đoạn đến năm 2030, khi mức độ đô thị hóa đô thị tăng cao, đồng thời để chủ động thoát nước các lưu vực thuộc địa phận Hà Nội, giảm tải cho sông Ngũ Huyện Khê về phía Bắc Ninh, trạm bơm Long Tửu được xây dựng với công suất là 75m3/snhằm thoát nước động lực cho toàn bộ lưu vực Cổ Loa ra sông Hồng. Đồng thời xây dựng cống điều tiết trên sông Ngũ Huyện Khê tại ranh giới giữa Hà Nội và Bắc Ninh để tách lưu vực tiêu giữa 2 tỉnh.
      1. Lưu vực Mê Linh
    • Lưu vực Mê Linh có tổng diện tích tiêu là 8.705ha, bao gồm 2 tiểu lưu vực chính là Đông Bắc Mê Linh và Tây Nam Mê Linh.
    • Tiểu lưu vực Đông Bắc Mê Linh: gồm khu vực phía bắc giới hạn bởi đường sắt Hà Nội - Lào Cai và một phần phía nam giáp với đường sắt.Khi mực nước sông Cà Lồ thấp < +8,0m, toàn bộ lưu vực tiêu tự chảy vào sông Cà Lồ. Khi mực nước sông Cà Lồ cao ≥ +8,0m, đập trên hệ thống đầm, tại vị trí giao cắt với tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai đóng lại, phần khu vực phía Nam đường sắt hiện trạng sẽ tiêu thoát bằng cưỡng bức ra sông Cà Lồ.
    • Tiểu lưu vực Tây Nam Mê Linh: giới hạn bởi tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai phía Tây Nam, Sông Cà Lồ phía Đông Bắc, phía Đông giáp lưu vực Vân Trì - Vĩnh Thanh (Đông Anh) có tổng diện tích khoảng 2.421ha. Khi mực nước sông Cà Lồ < +8,0m, các lưu vực sẽ thoát tự chảy ra sông Cà Lồ. Khi mực nước sông Cà Lồ cao hơn, hiện tại các lưu vực này được bơm cưỡng bức ra sông Cà Lồ bằng trạm bơm Thường Lệ 1, Thường Lệ 2, Tam Báo, Văn Khê và Hoàng Kim. Cao độ mức nước thông thường trên hệ thống là +5,2m; cao độ mức nước thấp nhất trong hồ điều hòa đầu mối Hoàng Kim là +4,5m. Cao độ mức nước cao nhất khống chế trên hồ Hoàng Kim là +6,25m.

Trên cơ sở phân chia lưu vực thoát nước, cao độ mực nước khống chế tại trạm bơm đầu mối, cao độ hiện trạng các khu vực, xác định cao độ quy hoạch của từng khu vực, cụ thể như sau:

  1. Phần đô thị trung tâm ở phía Nam:
  2. Khu vực Hà Nội cũ, huyện Từ Liêm, trên Hà Đông ra đến vành đai 4 cao độ xây dựng khống chế như sau: những khu vực có cao độ < +6,2m sẽ tôn nền đến ≥ +6,2m đối với dân dụng và ≥ +6,5m đối với công nghiệp.
  3. Khu vực huyện Thanh Trì và đến hết ranh giới đô thị trung tâm về phía Nam cao độ xây dựng khống chế đối với dân dụng ≥ +5,7m; đối với công nghiệp ≥+6,2m.
  4. Dọc trục Láng - Hoà Lạc: từ đường Láng qua cầu sông Nhuệ: +6,2-7,0m; Từ cầu sông Nhuệ đến đường 70: +6,3-7,5m; Từ đường 70 đến đê đông sông Đáy: +7,0-8,0m; Từ đê tây sông Đáy đến đê đông sông Tích: +8,5-10,0m; Từ đê Tây sông Tích đến QL21 (đường Hồ Chí Minh): +12,0-18,0m; Từ tây QL21 đến chân núi Ba Vì: >+18,0m. Do đó, khu vực từ đường Láng đến đê đông sông Tích hầu hết là ruộng, đều phải tôn nền với chiều cao đắp 2,0 - 3,5m. Các khu vực còn lại san gạt cục bộ tạo mặt bằng xây dựng.
  5. Phần đô thị trung tâm ở phía Bắc sông Hồng:

* Khu vực huyện Đông Anh Bắc Sông Hồng:

  • Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Cà Lồ cao độ xây dựng tối thiểu ≥ +10,5m.
  • Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Hoàng Giang-Ngũ huyện Khê, sông Thiếp, cao độ xây dựng tối thiểu ≥ +9,0m
  • Các khu vực đã có nền địa hình cao không bị ngập lụt chỉ cần san gạt cục bộ tạo mặt bằng hài hoà với các khu vực xung quanh.

* Khu vực phía Đông huyện Đông Anh và huyện Gia Lâm Bắc Sông Đuống:

  • Vùng phía Đông và phía Nam huyện Đông Anh: cao độ xây dựng tối thiểu ≥ +7,5m.
  • Vùng huyện Gia Lâm Bắc sông Đuống: cao độ xây dựng tối thiểu ≥ + 7,0m.
  • Khu vực quận Long Biên và huyện Gia Lâm Nam Sông Đuống: cao độ xây dựng tối thiểu ≥ +7,5m

* Mê Linh:

  • Bắc Quốc lộ 23: có hướng dốc chính Tây Bắc - Đông Nam, dốc về phía đầm Và (phía Đông Nam huyện) chọn cao độ xây dựng khống chế ≥ +10,5 m.
  • Nam Quốc lộ 23: cao độ nền có xu hướng giảm dần từ ven sông vào trong đồng (sông Hồng và sông Cà Lồ cụt). Khu vực ven sông chọn cao độ xây dựng min ≥ +10,50m; khu vực đồng chọn cao độ ≥ +8,0m.

Kết luận:

Công tác quy hoạch chiều cao nền (cốt nền xây dựng) là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đô thị. Việc xác định cao độ nền khống chế cho từng khu vực, trục đường phố chính hoặc cho toàn đô thị trong các đồ án quy hoạch chung và được cụ thể hóa trong quy hoạch chi tiết nhằm bảo đảm thoát nước cho nền khu vực thiết kế, góp phần bảo vệ an toàn cho các công trình được xây dựng tại đô thị, quyết định cho việc phòng chống ngập úng, tạo nên sự phối hợp hợp lý giữa nền và hệ thống đường đô thị, sự kết nối giữa các công trình đường dây, đường ống với đường giao thông… ngoài ra còn góp phần quan trọng trong các giải pháp về tổ hợp không gian và tổ chức mặt bằng các công trình kiến trúc với nền đất xây dựng.

Tuy nhiên hiện nay, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của cao độ nền xây dựng trong đô thị còn nhiều hạn chế từ cơ quan quản lý, chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, thanh tra, kiểm tra và người dân. Cơ quan cấp phép xây dựng không cấp cao độ nền, thanh tra chỉ kiểm tra xây bao nhiêu tầng, có phép hay không, hiếm khi kiểm tra nền công trình được xây dựng theo cao độ nào. Phần lớn người dân chỉ quan tâm đến chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, ít người quan tâm đến cao độ nền dẫn đến có sự không đồng nhất cốt nền giữa công trình và vỉa hè khi tuyến đường được xây dựng và giữa các công trình với nhau.

Tài liệu tham khảo:

- Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050;

- Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;

- Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước Hà Nội do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) lập, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 430/TTg ngày 7/8/1995.

 

(Nguồn:Nguyễn Đức Trường - Tạp chí quy hoạch (Số 88))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website