Thách thức đối với công tác QHXD đô thị trong vùng ngâp lũ: Nghiên cứu khu đô thị mới Nam Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Tóm tắt Xây dựng Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là một trong bốn hướng phát triển mở rộng của thành phố nhằm đáp ứng các tiêu chí của đô thị loại II. Công tác quy hoạch xây dựng cho khu đô thị này có những thuận lợi nhất định về vị trí, giao thông, nguồn cấp điện, cấp nước, cảnh quan tự nhiên đẹp, hiện trạng xây dựng còn thưa thớt…

Tuy nhiên, nó cũng gặp phải không ít khó khăn vì khu vực thiết kế có nền đất thấp, yếu, chịu tác động nghiêm trọng từ lũ sông Quao và sông Cái Phan Rang làm gần 80% diện tích đất bị ngập. Trong khi đó, mục tiêu của công tác quy hoạch xây dựng là phải tạo ra được không gian đô thị sinh thái có bản sắc riêng mà vẫn bảo toàn được cảnh quan thiên nhiên trong điều kiện nguồn vốn dành cho đầu tư hạ tầng còn hạn chế. Đó chính là thách thức đối với công tác quy hoạch xây dựng cho Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Trên cơ sở phân tích các thuận lợi, khó khăn trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng… và các mục tiêu phát triển của khu nghiên cứu, bài viết đưa ra một số giải pháp để giải quyết thách thức trong công tác quy hoạch xây dựng.

Giới thiệu

Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có tổng diện tích 304ha gồm một phần phường Đạo Long, một phần xã An Hải và một phần xã Phước Thuận, là một trong bốn hướng phát triển mở rộng của thành phố theo định hướng quy hoạch chung. Đô thị này có tính chất là khu đô thị sinh thái, cửa ngõ phía Nam của thành phố, là khu vực chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn, có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, có cảnh quan đặc trưng của vùng trũng thấp. Hiện trạng khu vực chủ yếu là đất trồng lúa, nho, táo, hoa màu, giữa khu đất có dòng sông Quao chạy từ thượng nguồn về, đổ ra cửa sông Cái Phan Rang. Đây là khu vực có cảnh quan đẹp đặc trưng của khu vực với mùa nắng là khu vực sản xuất nông nghiệp nhưng mùa mưa thường ngập lụt.

Hình 1. Cấu trúc phát triển thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đến năm 2025, tầm nhìn 2030

(Nguồn: Quy hoạch chung thành phố Phan Rang - Tháp Chàm)

Hiện trạng ngập lụt

Khu đô thị phía Nam Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nằm trong vùng khí hậu Nam Trung Bộ, khô nóng và ít mưa nhưng nằm cuối lưu vực sông Cái Phan Rang và thấp trũng nên thường xuyên bị ngập úng do lũ kết hợp triều.

Diện tích ngập lũ toàn bộ lưu vực sông Cái Phan Rang vào tháng 11/2003 là 6.288ha, 11/2010 là 16.758ha chủ yếu tập trung ở bờ Nam sông Cái Phan Rang. Hiện nay, hệ thống tiêu lũ huyện Ninh Phước có 2 trục chính là trục tiêu nước sông Quao (dài 17,79km nối từ Siphông 1 trên kênh Nam đến sông Cái Phan Rang) và trục tiêu nước sông Lu (sông Lu I dài 1,14km, chiều rộng hiện tại 6-22m, sông Lu II dài 4,385km, rộng 30-51m).

  Hình 2. Vị trí khu vực trong lưu vực sông Cái Phan Rang, sông Lu, sông Quao

Hình 3. Hiện trạng ngập lũ tháng 11/2003 tỉnh Ninh Thuận

Cao độ tự nhiên trong ranh đô thị từ -1m đến 11m, cao độ trung bình là 4,10m. Địa hình cao chủ yếu là dọc QL1 và phần dân cư tập trung ở phía Tây Nam, dốc dần từ Tây Nam sang Đông Bắc phía sông Quao và sông Cái Phan Rang, độ dốc trung bình là 2,5%. Nền khu vực nghiên cứu có địa hình thấp và trũng, ở giữa khu đất có dòng sông Quao chạy từ thượng nguồn về, đổ ra cửa sông Cái Phan Rang.

Hình 4. Sơ đồ phân tích cao độ địa hình

Theo dõi diễn biến ngập lụt từ năm 1964 đến nay, ngoại trừ năm 1964 do hồ thủy điện Đa Nhim đưa vào sử dụng, điều tiết để cung cấp nước tưới cho hạ lưu sông Cái Phan Rang nên mực nước cao nhất đạt 6,13 m thì mực nước đỉnh lũ cao nhất lịch sử là mực nước năm 2010 với cao độ 5,38 m. Toàn bộ ranh khu vực bị ngập nước tới gần 80% diện tích đất.

Bảng 1: Số liệu quan trắc thực đo tại Trạm thủy văn Phan Rang

(Nguồn: Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Ninh Thuận)

STT

Chiều cao mực nước lớn nhất Hmax (m)

Thời gian xảy ra trận lũ

Tần suất P (%)

Ghi chú

1

6.13

17/12/1964

Điều tra

2

5.38

01/11/2010

1,96

Thực đo

3

5.34

13/11/2003

3,92

Thực đo

4

5.08

02/12/1986

5,88

Thực đo

5

4.86

16/11/2000

7,84

Thực đo

6

4.49

09/12/1993

9,80

Thực đo

7

4.26

12/12/2005

11,76

Thực đo

Ghi chú: Năm 1964 hồ thủy điện Đa Nhim đưa vào sử dụng điều tiết để cung cấp nước tưới cho hạ lưu sông Cái Phan Rang.

2. Thách thức đối với công tác quy hoạch xây dựng

Thách thức đối với công tác quy hoạch xây dựng cho Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là phải giải quyết bài toán quy hoạch với điều kiện đầu vào nhiều khó khăn nhưng yêu cầu đầu ra là phải đạt được những mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững, đảm bảo đầy đủ các yếu tố kinh tế, kĩ thuật và môi trường - văn hóa - xã hội.

Về thuận lợi: tiếp cận trục hành lang kinh tế quốc gia (Quốc lộ 1A) và trục giao thông chính đô thị (đường Thống Nhất) kết nối trung tâm đô thị hiện hữu. Có cảnh quan tự nhiên đẹp (sông Quao, vườn cây ăn trái phong phú). Thực trạng phát triển khu vực quy hoạch phần lớn là đất nông nghiệp nên có quỹ đất phát triển xây dựng các khu chức năng mới hiện đại. Có sẵn nguồn cấp điện, cấp nước (chỉ chờ đấu nối là có thể sử dụng).

Về khó khăn: Khu vực nghiên cứu có có nền đất thấp, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lũ của sông Quao, sông Cái Phan Rang nên gần 80% diện tích đất bị ngập; Có địa hình bị chia cắt bởi sông Quao; Các điểm dân cư xây dựng tự phát, hình thức kiến trúc lộn xộn, khó khăn trong việc quản lý quy hoạch xây dựng và chưa tạo được bộ mặt kiến trúc đồng bộ; Hạ tầng xã hội còn thiếu, quy mô nhỏ, chủ yếu là các công trình phục vụ điểm dân cư nông thôn.

Về biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm lại là một khu đô thị nằm trong vùng ngập lụt. Ngập lụt do lũ và do nước biển dâng hoặc do cả hai nguyên nhân. Biến đổi khí hậu đang diễn ra hàng ngày và có tác động lớn đối với hoạt động của đô thị hiện nay, nhất là các đô thị bị ảnh hưởng của triều cường. Do đó, công tác quy hoạch xây dựng phải xét đến ảnh hưởng đồng thời của lũ và nước biển dâng để xác định được nguyên nhân ngập lụt, từ đó đề xuất những giải pháp quy hoạch phù hợp.

Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là vùng ít có nguy cơ ngập do nước biển dâng. Tuy nhiên, nước biển dâng làm cản trở tới dòng chảy thoát lũ trên các sông Quao và sông Cái Phan Rang, kết hợp với lượng mưa có xu hướng tăng do biến đổi khí hậu sẽ làm cao trình mực nước đỉnh lũ ở khu vực có xu hướng tăng lên. Nghiên cứu về ảnh hưởng lũ do biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại khu vực, mực nước đỉnh lũ đến năm 2030 có thể tăng 10cm, đến năm 2050 có thể tăng 15-20cm (trong trường hợp chưa có thêm giải pháp về hồ chứa, điều tiết).

Thách thức về mục tiêu phát triển đô thị

Mục tiêu về Môi trường - Văn hóa - Xã hội: Phát triển đô thị đa chức năng theo hướng sinh thái có bản sắc riêng, bảo tồn được các giá trị cảnh quan đặc trưng. Hình thành nét đặc trưng đô thị cửa ngõ phía Nam, chuyển tiếp giữa thành thị và nông thôn; Mục tiêu về Kỹ thuật: Đô thị an toàn, thích nghi được với các điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng mà chủ yếu là đô thị phải đảm bảo khả năng chứa và tiêu nước lũ của sông Quao và sông Cái Phan Rang, đảm bảo khả năng thoát nước mưa; Mục tiêu về Kinh tế: Sử dụng nguồn vồn đầu tư hạ tầng tối ưu và hiệu quả.

3. Một số giải pháp để giải quyết thách thức

Quan điểm giải quyết thách thức là phải tận dụng tối đa các thuận lợi, khắc phục những khó khăn của điều kiện hiện trạng, đáp ứng các mục tiêu phát triển đô thị như đã nêu trên.

Tổ chức không gian kiến trúc gắn kết và hài hòa với các cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn hệ sinh thái và thích nghi với điều kiện ngập lũ.

Đối với cảnh quan tự nhiên, đề xuất bảo tồn cảnh quan và hệ sinh thái dọc sông Quao, coi đây là không gian mở trọng tâm với các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao và du lịch của đô thị. Khoảng đệm dọc sông Quao được tính toán đủ lớn để vừa tổ chức không gian mở gắn với hệ sinh thái hiện hữu vừa đảm bảo khả năng thoát lũ. Trong mùa mưa, khu vực này cho phép ngập hình thành các quảng trường nước, mùa khô chúng trở thành các công viên và không gian công cộng đa dạng nhiều loại hình vui chơi, giải trí cho người dân, không gian văn hóa đặc trưng, sinh thái góp phần tạo sự hấp dẫn riêng cho khu đô thị phía Nam.

Ngoài ra, tận dụng địa hình thấp và các dòng kênh mương hiện hữu khác để mở rộng thành hồ kết hợp mảng cây xanh vườn hoa, đường dạo, hình thành những cảnh quan đẹp. Mảng cây xanh đặc trưng xuyên suốt khu đô thị dọc theo hệ thống sông, hồ, kênh, mương tạo nên không gian xanh liên hoàn, góp phần cải thiện vi khí hậu và tạo được bản sắc riêng cho khu vực quy hoạch.

Đối với các khu vực chức năng đề xuất khống chế mật độ xây dựng thấp để có quỹ đất phát triển cây xanh đô thị, làm tăng diện tích thấm nước trong đô thị.

Phát triển các công trình văn hóa, các làng nghề, lễ hội đặc trưng của khu vực gắn liền với không gian mở thoát nước dọc sông Quao.

Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nổi tiếng với các công trình kiến trúc đặc trưng của dân tộc Chăm như hệ thống đền tháp, điêu khắc, tượng thờ…; Huyện Ninh Phước với các làng nghề truyền thống nổi tiếng như làng gốm Bầu Trúc, dệt thổ cẩm ở làng Chăm Mỹ Nghiệp… Ngoài ra, dọc sông Quao hiện nay chủ yếu trồng các loại cây ăn trái như nho, táo - loại trái cây đang tạo nên thương hiệu về nông sản của tỉnh Ninh Thuận.

Do đó, đề xuất giải pháp bố trí đất các công trình văn hóa, làng nghề hoặc các phòng trưng bày sản phẩm gắn với liền với mảng xanh không gian mở dọc sông Quao, kết hợp với du lịch sinh thái vườn (trồng táo, nho). Khuyến khích thiết kế công trình điểm nhấn mang kiến trúc đặc trưng của địa phương dọc Quốc lộ 1A và song Quao.  

Khống chế cao độ xây dựng đảm bảo an toàn chống lũ và các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Cao độ xây dựng cho khu vực được tính toán theo tiêu chuẩn đô thị loại II, ứng với tần suất mực nước lũ P=2% như sau:

Hxây dựng ≥ Hmax + Han toàn

Theo số liệu thủy văn, chiều cao mực nước lũ cao nhất Hmax ứng với tần suất 2% là 5,38m. Khoảng an toàn chống lũ Han toàn có tính đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng (đến giữa thế kỷ 21, mực nước lũ có thể tăng từ 15-20 cm) được đề xuất là 0.6 m.

Hxây dựng ≥ Hmax + Han toàn = 5,38 + 0,6 = 5,98 m, lấy tròn Hxây dựng ≥ 6,0 m.

Khống chế cao độ xây dựng tùy theo các khu chức năng:

Đối với các khu vực nhà phố, nhà vườn, các khu công cộng, dịch vụ, y tế, giáo dục, thương mại… sẽ san lấp tại các vị trí xây dựng công trình đảm bảo cao độ xây dựng tối thiểu là 6,0 m. Các khu vực nhà ở hiện hữu cải tạo chủ yếu san lấp cục bộ tới cao độ khống chế xây dựng 6,0 m khi hạ tầng giao thông hoàn thiện. Các khu vực công viên cây xanh, hành lang xanh có thể san lấp cục bộ tạo cảnh quan hoặc để theo địa hình tự nhiên, cần kết hợp đào nhiều hồ, kênh thoát nước.

Tổ chức tiêu thoát lũ sông Quao và sông Cái Phan Rang kết hợp tăng khả năng trữ nước của nguồn tiếp nhận.

Khu vực chịu tác động trực tiếp từ lũ sông Quao và sông Cái Phan Rang gây ra tình trạng ngập lụt. Nhìn chung, phần lớn diện tích ngập tại khu vục này là do địa hình bằng phẳng, thấp trũng nên khi lũ về, nước lan truyền ra xung quanh dòng chảy.

Giải pháp phòng chống lũ lưu vực sông Cái Phan Rang đoạn qua thành phố Phan Rang Tháp Chàm đối với khu vực phía Bắc là dùng kè kiên cố để ngăn lũ hoàn toàn, đối với khu vực phía Nam là nơi trữ nước và làm chậm lũ, chủ yếu hình thức thích nghi với lũ.

Giải pháp chống lũ lưu vực sông Quao ngoài việc điều tiết vận hành hồ sông Quao ở thượng nguồn, cần tính toán khả năng tiêu lũ của sông Quao và giải pháp chứa nước khi hình thành đô thị tại khu vực này.

Các đề xuất được đưa ra gồm: Tạo hành lang thoát lũ an toàn và khoảng đệm chứa nước cho sông Quao, nạo vét lòng sông rộng tối thiểu 30m, đề xuất khoảng đệm xanh mỗi bên tối thiểu 50m so với bờ song; Các khu vực chức năng khác xây dựng ở mật độ thấp, mục tiêu là có quỹ đất để đào hồ, kênh mương, tăng khả năng chứa nước lũ ngay trong lô đất. Quá trình chứa và tiêu nước lũ trong các lô đất được thực hiện nhờ hệ thống kênh mương đào hở kết hợp với các hồ chứa, các vùng trũng thấp tự nhiên; Khu vực được chia thành bốn lưu vực thoát nước chính (ngăn bởi sông Quao, QL1), các lưu vực sẽ tổ chức các mương hở thoát nước có bề rộng tối thiểu 4m để dẫn nước thoát ra sông Quao kết hợp đào nhiều hồ điều hòa.

Hình 5. Tổ chức không gian đô thị dựa trên khung kiểm soát tiêu thoát lũ và khả năng chứa nước của tầng lô đất

Phân kỳ đầu tư hợp lý, giải pháp san nền hiệu quả để tối ưu vốn đầu tư

Xây dựng đô thị ở khu vực có diện tích đất thấp, ngập lũ sẽ làm cho kinh phí đầu tư hạ tầng rất tốn kém, nhất là kinh phí về san lấp đất.

Đề xuất phân kỳ xây dựng đợt đầu chỉ xây dựng các công trình cấp bách, cần thiết trước (các công trình công cộng, bệnh viện, giáo dục…), làm tiền đề cho các hoạt động của đô thị mới và kêu gọi đầu tư. Khu vực xây dựng đợt đầu cũng đề xuất bố trí ở các vị trí có địa hình cao hơn, ít phải san lấp.

Giai đoạn dài hạn hầu hết đầu tư xây dựng ở vùng thấp, bị ngập lũ. Đề xuất giải pháp san nền chống ngập chỉ san lấp cục bộ theo chân công trình và lối tiếp cận, diện tích còn lại đào hồ, kênh mương hoặc không san lấp, cho phép chứa nước trong mùa lũ.

Kết luận

Quy hoạch xây dựng đô thị trong vùng ngập lụt có những đặc trưng riêng phụ thuộc vào điều kiện hiện trạng của từng đô thị và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với khu vực đó. Thách thức cho công tác Quy hoạch xây dựng đô thị trong vùng ngập lụt là phải đồng thời giải quyết được hai yêu cầu: một là khắc phục được những khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của hiện tại; hai là đáp ứng được những mục tiêu phát triển lâu dài để khu vực quy hoạch trở thành đô thị sinh thái, bền vững. Để giải quyết những thách thức trong công tác Quy hoạch xây dựng cho khu vực trong vùng ngập lụt như Khu đô thị phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ về môi trường, kiến trúc, văn hóa - xã hội, kỹ thuật và kinh tế.

Tài liệu tham khảo:

  1. Viện Quy hoạch Xây dựng miền Nam (2014), Báo cáo Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 Khu vực phía Nam thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Ninh Thuận.
  2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Hà Nội.
  3. Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Ninh Thuận (2013), Bảng tính toán tần suất cho mực nước cao nhất (chuỗi số liệu từ năm 1964 đến năm 2013). Ninh Thuận.
  4. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Ninh Thuận (2013), Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Ninh Thuận, Ninh Thuận.
  5. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng. Bộ xây dựng ban hành ngày 03 tháng 04 năm 2008.
  6. World Commission on Environment and Development (1987), Our Common Future, Oxford University Press, p. 41.
  7. Richard Register (2006), Ecocities: Rebuilding cities in balance with nature, New Society Publishers.
  8. Nguyễn Vũ Huy, Ứng dựng mô hình lũ 2 chiều mike flood trong quy hoạch thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, Tập san Khoa học và Công nghệ Quy hoạch thủy lợi - 2009.
(Nguồn:ThS. Hồ Phú Khánh-ThS. Nguyễn Bình Minh - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 88))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website