Xây dựng bộ tiêu chí đô thị phát triển bền vững - Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý một số định hướng cho Việt Nam

Những vấn đề chung về đô thị phát triển bền vững Phát triển bền vững, theo Ủy ban thế giới về môi trường và Phát triển (WCED) trong báo cáo chung “Tương lai của chúng ta” năm 1987, chính là “Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Phát triển bền vững (PTBV) được thể hiện ở cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội – môi trường và hạt nhân của nó chính là con người. Bước sang thế kỷ 21, PTBV trở thành mục tiêu hàng đầu cho tất cả các quốc gia, các thành phố, đến từng khu ở đô thị cũng như mọi cư dân. Đây là một quá trình phát triển đồng bộ nhiều lĩnh vực khác nhau theo một khuôn khổ và định hướng thống nhất về PTBV. 

Đô thị phát triển bền vững (ĐTPTBV) nằm trong bối cảnh PTBV nói chung, đi cùng với khái niệm PTBV. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan điểm về ĐTPTBV tùy theo từng góc độ tiếp cận. Hội nghị URBAN21 tổ chức tại Berlin tháng 7/2000 cũng đã đưa ra một định nghĩa về PTĐTBV: "Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai, một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn. Mục tiêu là nguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các khu vực đô thị”. (Nguồn: Tuyên bố chính thức của Hội nghị URBAN21 6/7/2000). 

Ấn Độ - một quốc gia đã và đang trên con đường đô thị hóa mạnh mẽ - đưa ra định nghĩa về ĐTPTBV trong báo cáo “Urban Policies in India-Critical Overview toward Agenda in the New Millennium” - 1999 (Tổng quan các chính sách đô thị quan trọng tại Ấn Độ Tổng quan-trọng hướng tới chương trình nghị sự Thiên niên kỷ mới) "Một cộng đồng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứng nhu cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai; tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và chất lượng sống tốt hơn cho tất cả cư dân bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và phát huy tối đa hiệu quả, phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nền kinh tế địa phương". Quan điểm của Argentina trong nghiên cứu “Sustainable development in Argentina” – 1992 (Phát triển bền vững tại Argentina) về ĐTBV thì là “Một thành phố bền vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai”. 

Còn theo Viện Môi trường Stockholm của Thụy Điển, trong nghiên cứu “Managing environmental systems: supporting sustainable urbanization” (2014) (Quản lý hệ thống môi trường: hỗ trợ đô thị hóa bền vững), một thành phố bền vững được định nghĩa là tại đó "tiến hành các hành động được đề ra bởi các chính sách và quy hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có, thực hiện tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triển các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai". 

Trong nghiên cứu của tác phẩm “Sustainable urban development” (Phát triển đô thị bền vững), M Deakin, G Mitchell, P Nijkamp, R Vreeker (Europe, 2007) đề cập kỹ và sâu hơn về các tính chất cần phải có của một đô thị bền vững, theo các tiêu chí chung của PTBV trên 4 lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Vấn đề “thể chế” cho một đô thị vận hành và phát triển đã được nhấn mạnh như một trong những điều kiện tiên quyết cho tính bền vững của đô thị đó. 

Có thể nói, dù còn một vài điểm khác nhau do góc nhìn, các quan điểm trên thế giới đều đi đến một nhận định chung: ĐTPTBV là sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội trong đô thị với mục tiêu cuối cùng là đời sống của dân cư đô thị phải được nâng cao hơn, tiện nghi và hạnh phúc hơn ở thế hệ hiện tại mà không gây ra gánh nặng cho thế hệ tương lai.

Bộ tiêu chí đô thị phát triển bền vững tại các nước trên thế giới
Để đánh giá mức độ PTBV của đô thị, các tổ chức đã và đang tập trung vào việc xây dựng phát triển các bộ chỉ tiêu đo lường mức độ PTBV của đô thị. 
Tại Anh, đề án Local Agenda 21 được Chính phủ Anh khởi xướng từ năm 1997 được xây dựng trên các nguyên tắc của PTBV bước đầu đã mang lại một số kết quả tích cực. Từ năm 2007, “Diễn đàn cho tương lai”, một tổ chức phi chính phủ tại Anh đã tiến hành đánh giá mức độ bền vững của các thành phố tại Anh theo định kỳ hàng năm. Các đánh giá sử dụng 13 tiêu chí đánh giá thuộc 3 nhóm: 
a) Các tiêu chí về tác động môi trường:

  • Chất lượng không khí: đo lường nồng độ khí NO2 tại một số điểm trong thành phố, là một chỉ số tốt về mức độ độc hại của khí thải phương tiện giao thông. 
  • Tác động sinh thái: Đo lường tác động của việc tiêu dùng tới môi trường đô thị. 
  • Rác thải: Đo lường lượng rác thải bình quân trên đầu người trong vòng 1 năm. Lượng rác thải là một đại diện có giá trị cho tổng lượng nguồn lực đã được tiêu thụ.
  • Đa dạng sinh học: diễn tả tốc độ thu hẹp của các khu vực tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học khu vực, gây nên sự biến mất của các loài sinh vật

b) Các tiêu chí về chất lượng cuộc sống:

  • Sức khỏe: Đo lường tuổi thọ của cư dân, là một chỉ thị tốt về sức khỏe cư dân.
  • Không gian xanh: Đo lường diện tích khu vực xanh trên mỗi đơn vị 1.000 dân. Đây là một chỉ thị rất tốt về không gian sống thân thiện với môi trường cho cư dân.
  • Giao thông: Đo mức độ tiếp cận tới các dịch vụ GTCC của cư dân. Đây là một chỉ thị tốt về mức độ cung cấp dịch vụ GTCC tại địa phương.
  • Việc làm: Đo lường sự biến động về số người nhận trợ cấp thất nghiệp.
  • Giáo dục: Đo lường tỉ lệ dân cư trong độ tuổi lao động ở địa phương có bằng cấp từ Dạy nghề bậc 2 (hoặc tương đương) trở lên.

c) Các tiêu chí về thích ứng với tương lai:

  • Biến đổi khí hậu: Các chính quyền địa phương được cho điểm trên 27 tiêu chí liên quan đến hành động để ứng phó tới mối nguy BĐKH. 
  • Kinh tế: Đo số doanh nghiệp khởi sự trong năm trên 10.000 dân cư, sử dụng số liệu từ các đăng ký kinh doanh, một chỉ thị tốt về sức sống kinh tế của địa phương.
  • Tái chế: Đo lường tỉ lệ rác thải hộ gia đình được tái chế, tái sử dụng, hoặc lên men sinh hóa trong tổng số rác thải hộ gia đình.
  • Thực phẩm địa phương: Biến động về số nhà cung cấp và lượng cung cấp thực phẩm cho địa phương, so sánh với tổng dân số. Đây là một chỉ thị phần nào phản ánh mức độ an toàn lương thực của địa phương.

Tại Mỹ, chính quyền các thành phố có chức năng tương đối độc lập với Chính phủ, đóng vai trò rất lớn trong các kế hoạch PTĐT và họ thường xây dựng các chiến lược cũng như tiêu chí đánh giá riêng. Một mô hình đáng chú ý là thành phố Minneapolis, tiểu bang Minnesota. Năm 2003, chính quyền thành phố này thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển thành phố bền vững và sử dụng các nguyên tắc bền vững trong việc ra quyết định của chính quyền. Kế hoạch PTBV Minneapolis được xây dựng và sửa đổi qua các năm, được chia thành 3 nhóm chính gồm: 
a) Nhóm tiêu chí về Sức khỏe cuộc sống, gồm 6 tiêu chí:

  • Sức khỏe trẻ sơ sinh: tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và số trẻ sơ sinh nhẹ cân; 
  • Tỉ lệ mang thai ở trẻ vị thành niên: số ca trẻ vị thành niên 15-17 tuổi mang thai;
  • Tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư;
  • Chỉ số cân nặng trung bình của dân cư;
  • Chỉ số hô hấp: tỉ lệ cư dân nhiễm các bệnh liên quan đến hô hấp;
  • Nhiễm độc chì: số liệu về mức chì trong máu của trẻ em dưới 2 tuổi.

b) Nhóm tiêu chí về Tác động môi trường, gồm 12 tiêu chí:

  • Lượng phát thải CO2 của cư dân thành phố;
  • Năng lượng có thể tái tạo;
  • Chất lượng không khí;
  • Mức độ cây bao phủ;
  • Tỉ lệ cư dân sử dụng phương tiện phi cơ giới;
  • Các phương tiện giao thông thay thế trong nội đô;
  • Mức độ tiếng ồn của sân bay thành phố;
  • Tỉ lệ các chất gây ô nhiễm trong nước mưa;
  • Chất lượng hồ trong thành phố;
  • Mức độ phát triển các công việc thân thiện với môi trường trong thành phố;
  • Lượng thực phẩm được sản xuất theo phương pháp thân thiện với môi trường;
  • Mức độ giảm và tái chế rác thải.

c) Nhóm tiêu chí Sinh tồn của cộng đồng, gồm 8 tiêu chí:

  • Tỉ lệ giảm các điểm chết về môi trường;
  • Tỉ lệ biến động tội phạm bạo lực cấp độ I hàng năm;
  • Mức độ gắn kết của cộng đồng trong việc ra quyết định của chính quyền;
  • Tỉ lệ người vô gia cư;
  • Biến động mức cung cấp nhà ở cho người có thu nhập thấp so với nhu cầu;
  • Biến động về mức việc làm và nghèo đói;
  • Tỉ lệ tốt nghiệp cấp 3 trung bình của các trường trong thành phố;
  • Mức độ phát triển nghệ thuật và kinh tế;

Việc xây dựng tiêu chí gắn liền với nhu cầu và tình hình thực tế địa phương, trải qua quá trình tham vấn, khảo sát kĩ lưỡng trên cư dân. 
Tại Malaysia, tổng số các chỉ số PTBV đô thị do Bộ Xây dựng ban hành gồm 50 chỉ tiêu thuộc 11 ngành: nhân khẩu học, nhà ở, nền kinh tế, lợi ích và hạ tầng cơ sở, công tác xã hội, môi trường, xã hội học, tác động về xã hội học, sử dụng đất, hình thức đô thị và di sản, giao thông, quản lý và tài chính. Phương thức chấm điểm dựa trên các kết quả cụ thể của từng chỉ tiêu mà đánh giá theo các thang điểm 3-2-1.


Bộ tiêu chí PTBV cho thành phố tại Trung Quốc gồm 7 nhóm tiêu chí lớn với các nội dung sau: (1) Nhân khẩu; (2) Sinh thái; (3) Tài nguyên; (4) Môi trường; (5) Kinh tế; (6) Xã hội; và (7) Khoa học giáo dục. Bộ chỉ tiêu PTBV của Trung Quốc ngắn gọn, cô đọng, bao gồm đầy đủ các nội dung. Bộ chỉ tiêu không cố định, tuỳ theo đặc điểm của từng địa phương sẽ có các chỉ tiêu cụ thể khác nhau, định kỳ 2-3 năm sẽ điều chỉnh một lần. 


Tại Việt Nam, trong nghiên cứu “Tiêu chí, chỉ tiêu và chỉ số PTBVĐT của Việt Nam” của Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Bộ Xây dựng thực hiện năm 2005 tại Dự án VIE-01-021 trong khuôn khổ triển khai chương trình Agenda 2 về PTBV của Chính phủ trong lĩnh vực PTĐT, 10 nhóm tiêu chí bền vững trong quá trình đô thị hóa đã được đề xuất như bảng sau:

TT Nhóm tiêu chí Các tiêu chí
1 Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh thái tự nhiên, bảo vệ môi trường Có 4 tiêu chí: 1) 6 vùng địa lý; 2) Các thông số điều kiện tự nhiên tại 6 vùng địa lý; 3) Khai thác tốt các vùng sinh thái tự nhiên, 4) Đảm bảo tốt môi trường đất, nước, bờ biển, rừng, sông, hồ...
2 Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo nhiều việc làm đô thị ổn định, bền vững cho mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đô thị Có 5 tiêu chí: 1) Tăng trưởng các ngành công nghiệp, 2) Tăng trưởng thương mại và dịch vụ, 3) Tăng thu nhập từ thuế cho thành phố; 4) Có nền kinh tế đô thị mang tính cạnh tranh phát triển giữa các đô thị, 5) Tạo nhiều việc làm cho khu vực dân nghèo,thu nhập thấp và khu vực cư dân không chính thức khác.
3 Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh Có 5 tiêu chí: 1) Đại học, 2) Cao đẳng; 3) Trung học, hoặc tương đương, 4) Tiểu học và 5) Thất học (thấp nhất có thể)
4

Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững

Có 3 tiêu chí: 1) Có đủ số cán bộ có trình độ trên ĐH  và có kỹ năng QLĐT theo hướng bền vững; 2) Có đủ số cán bộ có trình độ ĐH và có kỹ năng QLĐT, 3) Có đủ số cán bộ có kỹ năng QLPTĐT trình độ trung học. Số lượng cán bộ theo 3 tiêu chí trên với tỷ lệ 2/5/3.
5 Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị ngày càng cao Có 6 tiêu chí: 1) Chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, 2) Giáo dục đào tạo tốt, 3) Vui chơi giải trí thỏa mãn, 4) Tạo được không khí hoà nhập cộng đồng đô thị, 5) Thỏa mãn các nhu cầu dịch vụ, mua sắm và 6) Thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt khác.
6

Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững

Có 6 tiêu chí: 1) Nhà ở đô thị đủ, tiện nghi; 2) Cây xanh đô thị thỏa mãn; 3) Có đủ các loại công trình giáo dục đào tạo; 4) Có đủ các công trình chăm sóc sức khỏe; 5) Có đủ các công trình vui chơi giải trí; và 6) Có đủ các cơ sở sinh hoạt văn hoá, mở mang trí tuệ.
7

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững

Có 7 tiêu chí: 1) Giao thông trong ĐT và đối ngoại: đáp ứng đầy đủ, an toàn và hiện đại; 2) Cấp nước ĐT đảm bảo chất lượng, đủ khối lượng, 3) Thoát nước ĐT với 2 hệ thống riêng, 4) Chất thải ĐT được phải được xử lý 100%, 5) Sử dụng năng lượng ĐT theo hướng tự nhiên ngày càng tăng, 6) Thông tin truyền thông ĐT thỏa mãn ở trình độ cao, 7) Tiếp cận kịp thời các yêu cầu về kỹ thuật hạ tầng và công nghệ đô thị tiên tiến.
8 Lồng ghép quy hoạch môi trường trong QH đô thị Có 5 tiêu chí: 1) Tổ chức không gian xanh vùng và ĐT hợp lý, 2) Khai thác mặt nước tối đa có thể, 3) Giữ gìn tốt môi trường XH; 4) Bảo tồn môi trường di sản ĐT hiệu quả nhất, và 5) Thực hiện các QH môi trường chuyên ngành trong ĐT và vùng khi cần thiết.
9

Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị

Có 5 tiêu chí: 1) Đóng góp ý kiến trong công tác QHĐT, 2) Đóng góp ý kiến đầu tư PTĐT, 3) Đóng góp ý kiến trong công tác QLĐT 4) Đóng góp ý kiến trong các điều hành của bộ máy QLĐT liên quan, 5) Vai trò phụ nữ trong công tác đóng góp ý kiến 
10

Hợp tác, phối hợp điều hành Vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và cùng phát triển

Có 5 tiêu chí: 1) Hình thành ranh giới và không gian vùng hợp lý, 2) Hình thành một cơ chế điều hành bình đẳng, hiệu quả, 3) Đảm bảo đem lại lợi ích cho các đô thị trong vùng, 4) Hợp tác để cùng nhau bảo vệ môi trường và PTBV, và 5) Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái đô thị.

Bảng: Các nhóm tiêu chí phát triển đô thị bền vững của dự án VIE 01/021

Với quan điểm tích hợp và đa ngành để xây dựng quan điểm PTĐT theo hướng PTBV, nghiên cứu này là những nền móng bước đầu quan trọng cho việc nghiên cứu ĐTPTBV tại Việt Nam. 

Một số gợi ý về định hướng xây dựng bộ tiêu chí ĐTPTBV cho Việt Nam: 

  • Một đô thị bền vững trong các tiêu chí của các nước được thể hiện như là một phần của tổng hòa các “khung cảnh” bền vững liên quan rộng lớn hơn, cấu thành nên đô thị. Vì vậy tiêu chí để xây dựng một đô thị bền vững trước tiên phải thoả mãn những yêu cầu mà sự nghiệp phát triển bền vững chung đòi hỏi, tức là thỏa mãn các yếu tố PTBV trên 3 chân kiềng kinh tế - xã hội – môi trường, sau đó sẽ là những tiêu chí phản ánh các khả năng đóng góp quan trọng của đô thị vào một “khung cảnh” phát triển bền vững chung khi tính đến các chi phí tài nguyên, môi trường, sinh thái trong các hoạt động của mình. 
  • Phương pháp tiếp cận để lựa chọn các chỉ tiêu của các nước có thể chia ra hai cách tiếp cận tạm gọi là “từ trên xuống” và “từ dưới lên”. Các chỉ tiêu từ phía nhà hoạch định và chuyên môn áp xuống thường mang tính kỹ thuật, chuyên môn cao, trong khi việc dựa vào tham vấn cộng đồng thường cho ra các chỉ số dễ hiểu với công chúng và có thể là định tính. Thường chúng ta kết hợp cả hai phương pháp với tỷ lệ phụ thuộc vào từng đô thị/quốc gia cụ thể. Hai cách tiếp cận này cũng phản ánh nhu cầu phát triển tiêu chí vừa dựa trên số liệu khoa học chuyên ngành chính xác, vừa dựa trên tính dễ hiểu cho toàn cộng đồng tiếp cận.
  • Bộ chỉ tiêu PTBV phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển, các vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường bức xúc cần giải quyết của mỗi nước. Nghiên cứu bộ chỉ tiêu PTBV của một số nước đang phát triển trong khu vực (như Malaysia, Philippinnes, Thái Lan, Trung Quốc) và một số nước phát triển (Anh, Mỹ…) cho thấy trong khi các nước đang phát triển quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, các điều kiện tối thiểu để đảm bảo cuộc sống đô thị và khống chế quản lý phát triển đô thị thì ở các nước phát triển sự quan tâm tập trung vào các vấn đề bình đẳng, chất lượng cuộc sống, các vấn đề xã hội nảy sinh từ một nền kinh tế phát triển và vấn đề ô nhiễm môi trường. 
  • Do vậy, trên cơ sở những chỉ tiêu cốt lõi trên 3 mặt kinh tế - xã hội – môi trường, từng quốc gia cho đến từng thành phố nên dựa vào đặc điểm địa phương của mình mà bổ sung thêm những chỉ tiêu cơ bản, dựa vào điều kiện vùng mà bổ sung những chỉ tiêu đặc trưng vùng để hoàn thiện chỉ tiêu Đô thị bền vững cho từng đô thị cụ thể. Hơn nữa, phát triển bền vững là một quá trình hành động, nên việc định hướng và từng bước thực hiện có hiệu quả cho từng đô thị là rất quan trọng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Bộ Xây dựng (2005): “Tiêu chí, chỉ tiêu và chỉ số PTBVĐT của Việt Nam”, Đề tài NCKH. 
2. M Deakin, G Mitchell, P Nijkamp, R Vreeker (2007): “Sustainable urban development” (Europe, 2007).
 

(Nguồn:PGS. TS. KTS. Lưu Đức Cường - Ths. KTS. Lê Thị Thúy Hà - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Sô 81))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website