Định vị QHĐT dưới góc nhìn văn (bản) hóa

Trong ngành xây dựng, quy hoạch đô thị (QHĐT) đối với kiến trúc sư (KTS) và kỹ sư quy hoạch được xem là lĩnh vực có tính chuyên biệt, hội tụ và tổng hợp đa lĩnh vực nên sản phẩm quy hoạch có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình hình thành và phát triển đô thị.

Điều này khiến ta cùng chung cảm nhận khi các chuyên gia tranh luận sôi nổi xung quanh dự thảo Luật Quy hoạch hiện nay. Để thêm phần khách quan, bài viết xem xét thêm các yếu tố có tác động đến quy hoạch xây dựng (QHXD) dưới góc nhìn có tính văn hóa, từ: (1) Tư duy đến; (2) quá trình chuyển hóa (phi vật thể - vật thể) tới; (3) văn bản hóa (sản phẩm quy hoạch) và; (4) áp dụng thực tiễn. Qua phân tích quá trình chuyển hóa sẽ góp phần định vị lại QHXD trong hệ thống quy hoạch quốc gia.

  1. Quy hoạch đô thị trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, các đô thị được hình thành từ mối gắn kết làng xóm và sắp xếp tạo nên các trung tâm - nơi gặp gỡ văn hoá - tín ngưỡng, duy trì và phát triển xã hội [1]. Từ đó, quy hoạch sớm bắt đầu tổ chức nhóm các công trình nhằm phục vụ hoạt động xã hội - cộng đồng làm khởi sắc các nền văn minh; đồng thời, trở thành hiện tượng của TK20. Tới thế chiến lần thứ nhất, QHĐT dường như chỉ liên quan tới hoạt động của KTS và phát triển kiến trúc trên diện rộng (đường phố, không gian, vị trí và các mối liên quan công trình) là chính.

Khi đó, nhiều yếu tố xác định đặc tính của QHĐT như: tôn giáo, phòng vệ và kinh tế; thẩm mỹ và sức khỏe, giao thông… và các điều kiện xã hội khác. Cụ thể, tôn giáo và phòng vệ là hai yếu tố quan trọng nhất ngay từ thời kỳ: Cổ đại đến Phục hưng [2]. Đầu tiên, tôn giáo luôn phản ánh thế giới hiện hữu và phi hiện hữu thể hiện tư tưởng, văn hóa, tư duy, triết lý - thuộc lớp văn hóa phi vật thể nhằm định hướng và dẫn dắt cuộc sống của con người và xã hội tốt đẹp hơn. Trên cơ sở đặc điểm tôn giáo, thứ đến là cách thức tổ chức, sắp xếp không gian làng xóm, nhóm nhà và công trình - thuộc lớp không gian kiến trúc vật thể phù hợp với đặc điểm xã hội và cộng đồng đó. Dần dần, nền tảng xã hội các nước phát triển được cải cách, QHĐT đã sớm hình thành rõ nét ở Anh năm 1913 và Mỹ năm 1917 [2].

Ở Việt Nam, QHĐT được người Pháp thực hiện ở miền Nam vào năm 1862 sau khi triệt hạ thành Gia Định. Khi đó, Sài Gòn được quy hoạchtrở thành phố tương lai, với đồ án do Coffyn thực hiện đãphác thảo một đô thị rộng 25km2, khoảng 500- 600 nghìn dân [3]. Cho đến nay, một phần đồ án trên và nghiên cứu quy hoạch sau này trở thành hiện thực làm nền tảng choThành phố phát triển thành Hòn Ngọc Viễn Đông một thời. Tại miền Bắc, thời kỳ XHCN, công tác quy hoạch bắt đầu ngay khi tiếp quản Thủ đô Hà Nội (1954-56). Từ quy hoạch Hà Nội (1960-64)rồi đến yêu cầu phát triển đô thị các vùng miền mà hàng loạt các KCN đã được quy hoạch (gang thép Thái Nguyên, CN nhẹ Việt Trì và CN hóa chất Bắc Giang, KCN Thượng Đình và Minh Khai…). Thời kỳ này, công tác lập QHĐT thực hiện theo quy trình của Liên Xô cũ (lý thuyết tiểu khu nhà ở, tổ chức theo tầng bậc và đơn nguyên căn hộ khép kín). Từ cơ sở đó mà nhiều đồ án quan trọng (thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Vinh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Thái Nguyên, Việt Trì) đã được thực hiện sau đó [4].

Với các mốc thời gian trên, cho thấy lĩnh vực quy hoạch phát triển đô thị (PTĐT) trên thế giới và ở Việt Nam khởi đầu khá sớm. Tuy nhiên, QHĐT trong nước ít - nhiều bị ảnh hưởng do biến động thăng - trầm của đất nước (thời kỳ Pháp thuộc và chống đế quốc Mỹ). Qua gần 70 năm thực hiện QHĐT (nay là QHXD, theo luật Quy hoạch), đã chỉ ra rằng:

  • Hệ thống đô thị Việt Nam đã phát triển nhanh cả về số lượng - lẫn chất lượng. Đến hết 2016, cả nước có khoảng 800 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 36% [1].
  • 15 đồ án QHXD vùng liên tỉnh; các đồ án quy hoạch vùng tỉnh, hầu hết quy hoạch các tỉnh, thành phố, trong đó có 6 đô thị mới với quy hoạch chung được lập và phê duyệt [5].

2. Yếu tố cốt lõi cho hình thành và phát triển đô thị

Để hình thành một đô thị, yếu tố nhu cầu thực tế dẫn đến sự hình thành tư duy (gồm: nhận thức vấn đề, xuất hiện các liên tưởng, sàng lọc, hình thành giả thiết, kiểm chứng, giải quyết vấn đề)[6] của người sử dụng đô thị như một nội dung phi vật thể - được biểu hiện đa dạng qua nội dung, hình thức, hành vi khác nhau của từng cộng đồng xã hội. Từ đó, hình thái đô thị được tạo nên để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và mong muốn của nhà quản lý đô thị. Mặt khác, người sử dụng đô thị sẽ áp đặt lối tư duy lên các sự vật và hiện tượng khách quan [8] để xây dựng nên không gian và vận dụng các thành phần đô thị vật thể cho mục tiêu đáp ứng hoạt động xã hội. Hay ngược lại, các hoạt động chức năng (văn hóa, xã hội, kinh tế, an ninh - quốc phòng…) của cộng đồng cần các không gian cung cấp cácchức năng vật thể tương ứng. Nếu thiếu một trong hai yếu tố, thì không gian đô thị sẽ khó hoàn chỉnh.

Điều này cho thấy, lối “tư duy” sẽ định hướng rất lớn đối với hình thái đô thị trước mắt cũng như lâu dài. Câu hỏi (?) còn bỏ ngỏ hiện nay, đó là: vị trí “tư duy” về phát triển đô thị (tư duy - PTĐT) ở đâu trong tổng thể hệ thống quy hoạch quốc gia? Bởi hệ thống quốc gia bao trùm: quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm; quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; quy hoạch sử dụng đất đai; và quy hoạch xây dựng đô thị [7]. Cho nên, nếu “tư duy - PTĐT” đặt không đúng vị trí trong hệ thống sẽ làm cho quá trình chuyển hóa, kết quả - văn bản hóa liên quan tới phát triển đô thị sẽ khó chính xác, gây chồng chéo và bàn luận không dứt.

Do đó, vị trí “tư duy” của các nhà lãnh đạo sẽ có tính kiên quyết cho mức độ: quan trọng và ưu tiên, trong hệ thống quy hoạch quốc gia. Từ đặc tính văn hóa phi vật thể, tư duy về quy hoạch tiềm ẩn trong tâm thức của từng con người, qua sự tiếp nhận và thể hiện của con người cụ thể, nên nó mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất rõ rệt, ở đây chính là vai trò nhà lãnh đạo. Bởi thế điều này lại phụ thuộc vào chính cá nhân đó. Vì vậy, tư duy-PTĐT vừa mang tính bền chắc (tiềm ẩn trong tâm thức dân tộc) lại vừa mỏng manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào cá nhân)[8]. Vì thế, trước khi xem xét vai trò của QHXD trong hệ thống chung, “tư duy-PTĐT” cần được xác định đúng để làm cơ sở định hướng quá trình chuyển hóa, cho đến sản phẩm của quy hoạch. Vì thế, dạng văn hóa phi vật thể kể trên chỉ có thể nhận ra thông qua ứng xử, hoạt động của con người, hoạt động tư tưởng và văn hóa. Để cụ thể hóa chúng, văn bản hóa[8] các lối tư duy thông qua sản phẩm quy hoạch cho phép chuẩn hóa thành chuẩn mực, rồi từ những chuẩn mực đó, trong những mối quan hệ cụ thể, từng con người đô thị thể hiện ra thành hành vi ứng xử để tạo nên nét đặc trung của đô thị.

3. QHXD thực tiễn và một số tác động tiêu cực

          Gần 10 năm qua, QHĐT được cụ thể hóa bằng Luật Quy hoạch, trong đó đã phân loại từ: quy hoạch (liên) vùng, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết xây dựng nhằm từng bước cụ thể quy mô, cấp đô thị và các nội dung liên quan. Trong đó:

  • Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia, QHXD vùng tỉnh là công cụ để cụ thể hóa hệ thống tư duy từ trên - xuống dưới.
  • Quy hoạch chung đô thị có ảnh hưởng nhất đến quá trình phát triển của từng đô thị, bởi nội dung quy hoạch mang tính tầm nhìn và tư duy chiến lược. Tuy nhiên, thực tế triển khai quy hoạch còn có sự khác biệt.
  • Quy hoạch phân khu được triển khai để điều tiết sử dụng đất, kết nối hạ tầng cơ sở và định hướng phát triển dự án thành phần.
  • Quy hoạch chi tiết xây dụng tại các quận, phường, các khu có chức năng cụ thể hóa, đặc thù và làm cơ sở cho thực hiện các dự án chức năng.

Với sự phát triển của khoảng 800 đô thị hiện nay, ngoài mặt tích cực, các đô thị ở Việt Nam còn đối mặt với một số vấn đề:

  • Thiếu hạ tầng kỹ thuật, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống đô thị.
  • Một phần các vấn đề đô thị là hệ quả từ những “khoảng vênh” giữa mô hình ngoại nhập và năng lực nội tại, thích nghi mềm trước khung luật định cứng, ý chí quy hoạch và quyết tâm đầu tư trong hoạt động đô thị hiện nay. Những khoảng cách này đang thách thức các nhà quy hoạch và quản lý đô thị [1]. Vì thế, bộ mặt kiến trúc đô thị khó tránh khỏi sự phát triển lộn xộn làm thay đổi bản sắc văn hoá - xã hội và dần đánh mất đặc trưng vùng - miền vốn có.

4. Văn bản hóa sản phẩmQHXD

Về mặt kỹ thuật, lập QHXD là bước cụ thể hóa những “tư duy” về PTĐT (hay) giải quyết các vấn đề tồn tại của đô thị quá khứ, hiện tại và tương lai; từng bước tổ chức, sắp xếp và mô phỏng không gian đô thị vật thể (công trình kiến trúc, cảnh quan…). Quá trình thực hiện QHXD có thể chia làm 4 bước chính:

Đối với các nhà quy hoạch, bản thân các nội dung và sản phẩm QHXD đã là một thể thống nhất liên ngành khá hoàn chỉnh và được kế thừa và đúc kết gần 70 năm qua. Nên, bản thân bộ Luật Quy hoạch (2009) tự nó đã có một vị thế độc lập và có thể tự vận hành khá tốt. Chính vì thế, vị trí của bộ Luật này trong khung quy hoạch quốc gia sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc định vị “tư duy-PTĐT” của các nhà quản lý và lãnh đạo đô thị. Tuy nhiên, quá trình vận động của đô thị diễn biến nhanh và không ngừng đã làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề mới do các nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Chính vì vậy, việc tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các điều khoản trong bộ luật Quy hoạch năm 2009 là rất cần thiết - sẽ giúp cho chúng ta đưa ra các quyết sách hoàn chỉnh hơn.

5. Thay cho lời kết

Quy hoạch đô thị (hay) quy hoạch xây dựng đã sớm hình thành nhằm kiến tạo nên các không gian đô thị đáp nhu cầu thực tế của xã hội, cộng đồng và nhà quản lý đô thị. Quá trình lập quy hoạch là công tác rất quan trọng để chuyển tải các nội dung phi vật thể: “tư duy-PTĐT” thành các “không gian đô thị - kiến trúc - cảnh quan vật thể” (mô phỏng 2D/3D) và được văn bản hóa các sản phẩm quy hoạch. Song, để định vị QHĐT trong hệ thống quy hoạch quốc gia, vị trí “tư duy-PTĐT” cần phải đặt lên hàng đầu - bởi tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với: hình ảnh đô thị và sự thịnh vượng của mỗi thành phố, quốc gia trên thế giới ngày nay. Do đó, chúng ta cần cân nhắc kỹ lưỡng vị trí (tách riêng để hoàn thiện [hay] lồng ghép để chung chung hóa) QHĐT trước khi đưa ra quyết định liên quan tới Luật Quy hoạch mới.

Tài liệu tham khảo:

  1. Quang Ha (2016)., Khoảng Vênh trong đô thị thách thức đổi mới quy hoạch xây dựng. Quy hoạch xây dựng, số 82, Việt Nam.
  2. Arnold Whittick (1974)., Encyclopedia of Urban Planning. McGRWA-HILL Book Company, USA.
  3. Trần Hữu Quang (2016)., Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. NXB Tổng hợp TP HCM, Việt Nam.
  4. VIUP (2016)., Lịch sử 60 năm 1956- 2016. Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, Việt Nam.
  5. Bảo Trân (2017)., Dự thảo luật Quy hoạch: Bộ Xây dựng “phản pháo” Bộ KH-ĐT. Người Lao Động Online. Internet: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/du-thao-luat-quy-hoach-bo-xay-dung-phan-phao-bo-kh-dt-20170328232436208.htm
  6. Phạm Hồng Quý (2004)., Tìm hiểu thêm về khái niệm tư duy. Tạp chí Tâm lý học số 11/2004. Việt Nam.
  7. Phạm Trần Hải (2017)., Quy hoạch chung xây dựng trong hệ thống quy hoạch cấp Tỉnh của TP. HCM. Báo cáo chuyên đề tại Trường đai học kinh tế Tp HCM, ngày 20/3/2017.
  8. Ngô Đức Thịnh (2007)., Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể. Tạp Chí Cộng Sản Online. Internet: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2007/1739/Bao-ton-va-phat-huy-van-hoa-phi-vat-the.aspx.
  9. Nguyễn Tuyền, Luật Quy hoạch sẽ chặn tình trạng "vẽ vội quy hoạch", chiều lòng đại gia?. Dân Trí Online. Internet: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/luat-quy-hoach-se-chan-tinh-trang-ve-voi-quy-hoach-chieu-long-dai-gia-20170404133824456.htm.
(Nguồn:TS. KTS Ngô Minh Hùng - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 87))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website