Bàn về dự thảo Luật Quy hoạch theo cách tiếp cận hệ thống

Dự thảo Luật Quy hoạch chuẩn bị thông qua cho tới nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Đa số ý kiến sử dụng phương pháp tiếp cận từ luật thực định hoặc tiếp cận ngành để đối chiếu và đánh giá.Bài viết sử dụng tiếp cận hệ thống để thảo luận về xây dựng hệ thống quy hoạch tích hợp hơn, vận hành đồng bộ hơn trong bối cảnh phát triển hiện nay.

  1. Phạm vi điều chỉnh của hệ thống quy hoạch

Dự thảo Luật Quy hoạch điều chỉnh các hoạt động quy hoạch có chung đặc điểm lấy không gian làm cơ sở phân biệt để quy định về cách thức ứng xử. Khi các loại hình quy hoạch có chung một nền tảng không gian thì dù là cấp độ khác nhau hay ngành khác nhau thì đều tương tác với nhau ở mức độ nhất định do ràng buộc về không gian tác động. Đây là cơ sở để thảo luận về dự thảo Luật Quy hoạch theo cách tiếp cận hệ thống.

a)Quy hoạch đô thị và quy hoạch

Về phạm vi, dự thảo Luật Quy hoạch lần thứ VIII (2017) (Khoản 1 Điều 3) coi quy hoạch là “việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững do Nhà nước đặt ra cho thời kỳ xác định”. Khái niệm này chưa làm rõ “sắp xếp” có bao gồm tổ chức, cải tạo các không gian tự nhiên thông qua hoạt động xây dựng và sau đó phân bố các hoạt động kinh tế xã hội không? Nếu chỉ sắp xếp phân bổ các hoạt động kinh tế, xã hội trên không gian sẵn có (môi trường tự nhiên) mà không làm thay đổi không gian thì không bao hàm môi trường nhân tạo tức là hoạt động quy hoạch xây dựng[1]. Nếu phạm vi của Luật Quy hoạch bao trùm lên hoạt động quy hoạch xây dựng thì cần làm rõ hơn ý này.

b)Quy hoạch và thực thi

Ranh giới giữa quy hoạch và thực thi trong quản lý phát triển hiện đại ngày càng thu hẹp, xong thực tế ở Việt Nam vẫn còn khoảng cách. Điều 11 của dự thảo coi hoạt động quy hoạch gồm cả thực thi, xong nếu đối chiếu với phạm vi công tác quản lý nhà nước thì dường như thực thi chỉ là giám sát xem quy hoạch có được tuân thủ khi triển khai không và điều chỉnh theo yêu cầu (Điều 11).

Trong khi đó, thực thi quy hoạch theo các quy định hiện hành bao gồm cả tổ chức thực hiện từ xây dựng các chương trình đầu tư, chính sách quản lý để thực thi, quy chế quản lý theo khu vực, và quản lý đầu tư các dự án phát triển, và thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại đối với các vi phạm quy định kiểm soát phát triển. Phạm vi điều chỉnh của dự thảo về cơ bản không bao hàm việc thực thi, do đó nên điều chỉnh lại Điều 2 về đối tượng áp dụng là giám sát điều chỉnh thực thi, thay vì thực thi.

  1. Cấu trúc hệ thống quy hoạch không gian

a)Nền móng của cấu trúc tầng bậc

Hệ thống quy hoạch xây dựng theo tầng bậc cần đảm bảo thực tế đa dạng. Hệ thống có “đầu” là quốc gia, “thân” là vùng liên tỉnh và “chân” là (vùng) tỉnh, nối dài tới quy hoạch đô thị nông thôn và khu vực đặc biệt theo thứ tự từ trên xuống. Tuy nhiên, quy mô vùng đô thị thực tế rất đa dạng và không nên coi là một cấp độ dưới tỉnh. Bản chất Quy hoạch tỉnh là quy hoạch nghiên cứu về vùng (Điều 3). Tuy nhiên, ranh giới tỉnh chỉ là yếu tố chủ quan và việc nghiên cứu giải quyết vấn đề ở cấp độ vùng (vùng địa lý, định cư, hoặc kinh tế) cần thoát khỏi rào cản của ranh giới hành chính.

Tránh để ràng buộc về loại hình quy hoạch gắn với cấp độ hành chính cứng nhắc ở các vùng đô thị lan tỏa nhiều tỉnh. Khu vực nội đô của thành phố Hà Nội và TP.HCM có thể lớn hơn vùng tỉnh và thậm chí tương đương vùng liên tỉnh. Trong vùng định cư liên tục dạng chum đô thị, các vấn đề giao thông, dịch vụ tiện ích đô thị... cần giải quyết bằng quy hoạch đô thị trước khi nói tới quy hoạch vùng. Vùng ven đô cần quy hoạch đô thị nghiên cứu ở cấp độ vùng khác với quy hoạch lãnh thổ áp dụng cho vùng liên tỉnh.

Quy hoạch vùng ở các vùng như vậy sẽ phải tích hợp nhiều loại quy hoạch vùng như tổ chức không gian theo quan hệ định cư ở các chùm đô thị, quy hoạch vùng kinh tế, giao thông liên hệ vùng, đồng thời tích hợp các quy hoạch đô thị lan tỏa ở cấp độ vùng cũng như chính sách phát triển vùng và các ngành ở cấp độ quốc gia (Xem hình dưới).

Tóm lại, quan điểm về thứ tự về cấp độ không gian cần được hiểu là mô hình chung, nhưng không có nghĩa quy hoạch đô thị luôn nằm dưới quy hoạch vùng tỉnh. Các vùng đô thị cần đảm bảo quy hoạch đô thị ở cấp độ vùng và quy hoạch hệ thống đô thị của cùng vùng lãnh thổ đó được tích hợp.

a)Mối quan hệ giữa các cấp độ quy hoạch

Hệ thống tầng bậc cần làm rõ quan hệ trên và dưới phục tùng lợi ích hay phương án. Nguyên tắc dưới tuân thủ trên ở Điều 6 (Khoản 2, 3, 4, 5) là phù hợp, xong các khoản 6, 7, 8 giải thích đường lối xử lý mâu thuẫn giữa các cấp độ không gian cần làm rõ hơn. Chú ý rằng các hệ thống quy hoạch hiện đại đều xây dựng nguyên tắc kết hợp trên xuống và dưới lên trong quan hệ, tức là tôn trọng cả nguyên tắc từ trên xuống (lợi ích đại cục) và phản hồi từ dưới lên (khác biệt địa phương) trong mối quan hệ giữa các cấp. Thiết kế hệ thống này phản ánh bản chất quy hoạch là sự thỏa thuận, cần linh hoạt và có tính tương đối về giải pháp.

Trong bối cảnh Việt Nam, nhiều quy hoạch ở cấp “trên” có thể có vấn đề về cả độ tin cậy trong dự báo, tính cập nhật, và khả năng phản ánh khác biệt giữa mô hình mong muốn và thực tiễn địa phương. Nếu chỉ áp dụng nguyên tắc “trên” phủ định dưới một cách máy móc thì có thể dẫn đến bất cập khi bản thân hệ thống chưa hoàn chỉnh và đồng bộ.

Mặc dù dự thảo đã có điều khoản dưới điều chỉnh mà trên chưa cập nhật thông qua xin chủ trương điều chỉnh (Điều 50, khoản 2), xong vẫn cần làm rõ khi áp dụng để điều chỉnh “dưới” vì mâu thuẫn với trên thì do mâu thuẫn về lợi ích chứ không phải là vì khác biệt từ các giải pháp cụ thể. Quy hoạch và chính sách ở cấp độ không gian lớn như vùng và quốc gia có thể bị dẫn giải hoặc triển khai thông qua các giải pháp không phù hợp với thực tế cuộc sống. Do đó, cần tránh xử lý mâu thuẫn theo kiểu nhân danh lợi ích quốc gia xong bản chất lại chỉ là một lựa chọn của giải pháp cụ thể hoàn toàn có thể xem xét điều chỉnh.

1.Vị trí và vai trò của quy hoạch đô thị trong hệ thống quy hoạch

a)Quy hoạch đô thị là ngành hay cấp độ quy hoạch không gian

Quy hoạch đô thị không nên coi chỉ là quy hoạch ngành trong hệ thống. Nếu coi không gian vật thể là nền tảng kết nối các quy hoạch thì không gian đô thị và khu vực kề cận được cố kết chặt chẽ nhất về không gian với hệ thống cơ sở hạ tầng và tổ chức định cư lâu dài. Quy hoạch đô thị có tính ràng buộc cao về mặt cộng đồng cư dân trong phạm vi không gian liền kề, được hình thành gắn với tổ chức các chính quyền đô thị dạng cộng đồng tự quản gắn kết giữa chính quyền và cư dân, duy trì bởi hệ thống các quy tắc xử sự có tính kỷ luật cao hơn và văn minh hơn so với mặt bằng chung. Khu vực này luôn là cơ sở vững chắc để định vị và xác lập khuôn khổ cho tổ chức không gian lãnh thổ ở cấp độ cao hơn.

Hệ thống quy hoạch không gian ở các nước phát triển đều lấy quy hoạch đô thị làm trung tâm của hệ thống quy hoạch địa phương. Quy hoạch đô thị còn là gốc rễ của hệ thống quy hoạch không gian, định hình từ hàng ngàn năm nay song hành với việc tổ chức định cư con người, gắn kết giữa tự nhiên với xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của nhiều ngành kỹ thuật, kinh tế, và xã hội thông qua môi trường không gian vật thể.

b)Vị trí quy hoạch đô thị trong hệ thống quy hoạch không gian

Các quy hoạch trên cấp độ đô thị đều có gốc rễ là đô thị và vùng đô thị. Quy hoạch vùng, quốc gia, và nông thôn được hình thành và phát triển sau và phụ thuộc vào chính các đô thị hiện hữu. Quy hoạch vùng hình thành khi đô thị mở rộng, khi hệ thống hạ tầng vùng cần phát triển, tài nguyên vùng cần khai thác gắn với các trung tâm sản xuất và tiêu thụ là các đô thị. Quy hoạch nông thôn gắn với quá tình nâng cấp tiện ích ở khu vực nông thôn sử dụng cách tiếp cận định cư đô thị. Nhu cầu làm quy hoạch nông thôn cũng tập trung ở các vùng ven đô để phục vụ quá trình đô thị hóa vàcủng cố mối liên kết đô thị - nông thôn trong cơ cấu phát triển mới.

Nói cách khác, hệ thống đô thị và sự vận động nhanh của bộ khung này là trung tâm trong việc định hình tổ chức không gian lãnh thổ. Các quy hoạch dạng mạng lưới liên thông (logistic, đường sắt, năng lượng, viễn thông,...) trước hết cũng nhằm phục vụ kết nối các trung tâm sản xuất với các điểm cuối là đô thị[1].

Sự chi phối về phát triển đô thị ở các nước phát triển có trên 80% dân số sống tại đô thị thì vai trò, xong Việt Nam dù chỉ có khoảng 35% dân số sống ở thành thị, nhưng trên 70% GDP sản xuất từ đây và trên 70% nhu cầu năng lượng, hàng hóa cũng qua khu vục này. Xu hướng đô thị hóa trong nhiều thập kỷ tới càng làm cho đô thị đóng vai trò lớn hơn trong hệ thống tổ chức không gian quốc gia và củng cố vị trí cốt lõi. Các vùng đô thị đang phát triển nhanh cần các nỗ lực quy hoạch và quản lý tương xứng.

Với vị trí và vai trò như vậy, nên chăng thiết kế hệ thống quy hoạch không gian “quốc gia” lấy quy hoạch đô thị làm gốc rễ của hệ thống và là cấp cơ sở để tích hợp quy hoạch và quản lý phát triển thay vì chỉ tới các thành phố trực thuộc trung ương hay cấp tỉnh. Vấn đề nằm hệ thống hành chính của chúng ta chưa có chính quyền đô thị đúng nghĩa và cấp chính quyền được coi là “tự chủ” chỉ mới ở 5 thành phố trực thuộc Trung Ương. Tuy nhiên, nếu bắt đầu từ việc ủng hộ các nỗ lực phát triển từ các đô thị lớn như đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, chúng ta có thể kỳ vọng sẽ có nhiều Đà Nẵng hơn nữa phát huy tính năng động và sáng tạo trong quản lý phát triển khi được trao quyền.

2.Đổi mới hệ thống quy hoạch trong xu hướng tích hợp

a)Nền tảng của tích hợp

Việc xây dựng hệ thống quy hoạch tích hợp là yếu tố tích cực, xong quá trình này đòi hỏi nhiều điều kiện và cơ chế đảm bảo thực thi. Tham khảo các hệ thống quy hoạch tích hợp ở các nước phát triển, hệ thống quy hoạch tích hợp phải sử dụng các hệ thống chỉ số chiến lược làm cơ sở định hướng và giám sát thực thi (Gerd turowski, 2002). Tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể mà quy hoạch ở khu vực nhất định phải tích hợp cả quá trình quản lý và điều chỉnh các phương pháp quy hoạch ngành tương ứng đồng bộ theo chuẩn mực mới (như giữa giao thông và đô thị ở các đô thị lớn) (Angela Hull, 2005).

Để triển khai thực hiện tích hợp trong cả quá trình, tổ chức thể chế phải xây dựng các cơ chế để xây dựng năng lực và đảm bảo các bên tham gia hợp tác cung giải quyết các vấn đề kỹ thuật, chính trị và xã hội như (1) đảm các bên sử dụng nền tảng số liệu chung và chia sẻ, cập nhật số liệu quản lý khi thực thi và các tác động thực tế (chứ không phải số liệu dự báo), (2) đảm bảo cơ chế ra quyết định phù hợp với cơ cấu đa lợi ích[2], (3) đảm bảo cơ quan tổng hợp có đủ năng lực kỹ thuật tổng hợp thông tin và phân tích, dự báo, đánh giá đa ngành và giám sát thực thi.

Lộ trình để tích hợp cần chú ý tới khác biệt về nhu cầu tích hợp theo ngành, khu vực, và cấp độ. Dự thảo đề xuất thống nhất lộ trình, quy trình để các đồ án và giải pháp quản lý tích hợp theo các mốc thời gian là cần thiết (Điều 68). Tuy nhiên, cần chú ý là quy hoạch vùng tại các khu vực có biến động nhanh có nhu cầu cao hơn cần tập trung. Trong một số lĩnh vực, năng lực cần đòi hỏi chuyên sâu và đồng bộ hơn như quy hoạch giao thông và đô thị nếu không được lập và điều chỉnh song song với nhau thì không thể phát triển bền vững (R.Cervero, 2001). Trong bối cảnh nguồn lực hữu hạn, năng lực có hạn thì việc triển khai cần ưu tiên xây dựng năng lực và tích hợp quy hoạch cấp độ vùng của một số vùng đô thị phát triển nhanh, một số ngành có quan hệ chặt chẽ với nhau như giao thông, sử dụng đất, tài nguyên nước, và đô thị.

b)Thách thức thể chế về tích hợp nguồn lực

Bên cạnh quy trình chung, vấn đề căn bản của yêu cầu lập quy hoạch là tích hợp với nguồn lực (Điều 47). Trên thực tế, nguồn lực luôn “bất định” và kém khả thi như quy hoạch đường cao tốc Bắc - Nam, cảng hàng không Long Thành, đường sắt nội đô và Bắc - Nam, và Metro tại Hà Nội và TP.HCM liên tục chậm trễ do khó huy động vốn đầu tư trong bối cảnh nợ công tăng cao.

Tham khảo cách làm quốc tế cho thấy cần sử dụng quy trình giám sát theo năm song hành với các kế hoạc triển khai trung hạn và cập nhật vào chiến lược dài hạn để điều chỉnh các mục tiêu và tiến độ các quy hoạch theo tiếp cận chiến lược căn cứ theo khả năng huy động vốn thực tế là lựa chọn căn bản để làm các quy hoạch vừa có tính chiến lược vừa khả thi ở các chương trình hành động (Xem hình dưới).

Hình 2: mô hình quy hoạch và quản lý phát triển tích hợp.

Nguồn: tác giả.

Đây là hệ thống tích hợp quản lý phát triển bao gồm cả quy hoạch, thực thi, và chiến lược, kế hoạch nguồn lực. Yêu cầu tích hợp như vậy dẫn tới tổ chức lại các cơ quan tham gia, cơ chế đánh giá và xác định dự án, lĩnh vực ưu tiên, quy trình báo cáo và cơ chế điều chỉnh. Nhìn chung, để chuyển sang hệ thống này cần năng lực, thời gian, và quyết tâm chính trị cao.

a)Thách thức về phương pháp lập quy hoạch

Để tích hợp các quy hoạch cần phải thay đổi về phương pháp trong từng ngành. Cách làm dự báo dài hạn 15 đến 20 năm trong quy hoạch đô thị hiện nay dựa trên một số giả định như tăng trưởng dân số và tăng trưởng GDP theo tỉnh hoặc huyện có độ tin cậy thấp[1]. Dù quy hoạch xây dựng có cập nhật số liệu từ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội ở đầu kỳ quy hoạch thì dự báo giả định chỉ số tăng trưởng ở mức cao và dự báo dài hạn thường dẫn tới nhu cầu đầu tư rất lớn, rất khó để ưu tiên triển khai trong bối cảnh nguồn lực khan hiếm. Đồng thời, quy hoạch kinh tế xã hội cũng khó lựa chọn ưu tiên đầu tư khi quy hoạch thiếu các đánh giá tác động liên ngành để khẳng định tính cấp thiết. Trong nhiều trường hợp, việc bố trí đầu tư dựa vào các thỏa thuận chính trị thay vì căn cứ vào bằng chứng về tính cấp thiết có thể so sánh được giữa các phương án (Lawrie Wilson, 2016).

Các yêu cầu về điều chỉnh phương pháp dự báo, đánh giá, và lập quy hoạch sử dụng theo cơ sở dữ liệu thống nhất nhưng chưa nói rõ là theo các chỉ số chiến lược. Quá trình ra quyết định dựa trên các bằng chứng cũng chưa được làm rõ, xong kinh nghiệm quốc tế khẳng định đây là những điều kiện cơ bản để đảm bảo xây dựng hệ thống quy hoạch tích hợp thực sự. Các chính sách triển khai cần làm rõ hơn các nội dung trên.

Ngoài ra, cần chú ý là mục tiêu và phương pháp quy hoạch vùng hiện nay cũng khác trước. Quy hoạch vùng truyền thống tập trung khai thác tài nguyên tự nhiên, cơ sở hạ tầng, và lao động vùng trong nền kinh tế của cách mạng công nghiệp 2.0 (dựa vào điện khí hóa, dây chuyền sản xuất lớn và năng lượng hóa thạch). Trong khi đó, quy hoạch vùng hiện nay đặt mục tiêu xây dựng năng lực cạnh tranh vùng và quốc gia trong bối cảnh cách mạng công nghiệp thế giới đã chuyển sang 3.0 (dự vào máy tính và tự động hóa) và 4.0 (dựa vào mạng lưới thông minh và robot - trí tuệ nhân tạo). Quy hoạch vùng của giai đoạn hiện nay có mục tiêu sâu xa là tạo ra các vùng đô thị cạnh tranh về chất lượng sống cùng môi trường kinh doanh phù hợp cho các lao động có khả năng sáng tạo (có thu hút được lao động thì mới thu hút được các doanh nghiệp công nghệ cao và tham gia vào chuỗi sản xuất cung ứng ở trình độ cao hơn). Những vấn đề trên đều dẫn tới yêu cầu xây dựng năng lực cho cả đội ngũ tư vấn, các tổ chức đánh giá, thẩm định và ra quyết định về lập và thực thi quy hoạch.

1.Thực thi và điều chỉnh quy hoạch

Quá trình thực thi quy hoạch giai đoạn vừa qua còn nhiều bất cập gắn với điều chỉnh tùy tiện hoặc không tuân thủ quy hoạch (Pham Sy Liem, 2014). Điều 11 Dự thảo quy định nội dung thanh tra và kiểm tra là một trong các công cụ giám sát quá trình thực thi và đảm bảo thực thi đúng theo quy hoạch.

Tuy nhiên, cần chú ý là hoạt động thanh tra, kiểm tra hiện nay mới chỉ “soi” các cơ quan áp dụng quy định còn bản thân các đồ án Quy hoạch cùng người ký phê duyệt cũng như Hội đồng thẩm định “vô can”. Theo thông lệ quốc tế, bản thân đồ án quy hoạch cũng là đối tượng bị khởi kiện và bị điều chỉnh từ đề xuất đến từ bên ngoài hệ thống hành chính chứ không phải chỉ từ rà soát nội bộ (Điều 53).

Trên thực tế, bất cứ chính sách hoặc quy định nào cũng tồn tại những bất cập và sai sót. Tất nhiên khi bất cập tích lũy cần phải rà soát định kỳ và các căn cứ điều chỉnh khác (8 căn cứ Điều 52); tuy nhiên nhiều vấn đề bất cập có thể chỉ là cục bộ hoặc có tính căn bản nếu chỉ dựa vào cơ chế “tự phê bình” nội bộ thường rất chậm trễ. Cơ quan Nhà nước không có động cơ phải chỉnh lại bởi không có lợi ích sát sườn hoặc thậm chí “bao che” nể nang và lợi ích nhóm cản trở phát hiện sai sót. Vì vậy, nên chăng tạo điều kiện để khu vực ngoài Nhà nước cũng có quyền bày tỏ ý kiến và cơ quan có thẩm quyền tổ chức các cuộc tiếp xúc lắng nghe ý kiến (public hearing) với sự tham gia của Hội đồng chuyên môn phù hợp để xem xét điều chỉnh quy hoạch dù đang có hiệu lực hay thậm chí mới ban hành như vụ việc quy hoạch ở bán đảo Sơn Trà năm 2017[2].

Dự thảo cần làm rõ có coi giám sát bao gồm cả tạo điều kiện cho các bên ngoài Nhà nước phát hiện “lỗi” từ các quy hoạch đã phê duyệt không? Rõ ràng là nếu có cơ chế được luật hóa, các vụ việc như trên sẽ được giải quyết nhanh chóng thấu đáo hơn, các đồ án hoặc quy định quản lý được tối ưu hóa và cập nhật nhanh hơn, và đặc biệt là các cơ quan phê duyệt sẽ cẩn trọng hơn khi lắng nghe ý kiến từ bên ngoài. Chú ý rằng kết quả từ quá trình này không dẫn đến vô hiệu cả quy hoạch mà chỉ phần bất hợp lý trong các đồ án tổng thể vốn giải quyết rất nhiều vấn đề đồng thời. Có thể bắt đầu bằng cụ thể hóa việc lấy ý kiến bao gồm cả cơ chế lắng nghe khi có bên yêu cầu thay vì chỉ được tham gia khi tổ chức lấy ý kiến (Điều 12).

2.Kết luận

Phương pháp tiếp cận hệ thống chỉ là một trong số nhiều cách nhìn nhận và đánh giá về xây dựng một hệ thống quy hoạch không gian quốc gia. Các vấn đề thực tế có thể đa dạng hơn cách nhìn của một hệ thống đơn nhất khi giữa các hệ thống Luật (Quy hoạch đô thị, Đất đai, Đầu tư, và Quy hoạch) còn tồn tại những khoảng cách về phân chia khu vực thẩm quyền và phương pháp tiếp cận. Tuy nhiên, tiếp cận hệ thống vẫn có giá trị khi không gian là liên tục, các vấn đề có tính đa chiều, biến động và tương tác lẫn nhau.

Các đề xuất và đánh giá về hệ thống trên thực chất mới là phần vỏ của nhiều nội dung phức tạp khi các nhà làm luật xây dựng hệ thống quy hoạch tích hợp có tính thực chất. Việc tích hợp các quy hoạch ngành vào từng cấp độ không gian đòi hỏi xây dựng nền tảng kỹ thuật và năng lực để tích hợp về số liệu, xây dựng năng lực và chuẩn mực để đồng bộ về phương pháp đánh giá lựa chọn, cơ chế ra quyết định cùng các sắp xếp thể chế phù hợp với yêu cầu mức độ tích hợp theo khu vực và lĩnh vực cũng như đảm bảo hệ thống hoạt động lâu dài, bền vững về tài chính, minh bạch về phương pháp, hiệu quả về tác động đến quá trình phát triển chung. Tất cả các nội dung trên đều bắt đầu bằng xây dựng năng lực cho cơ quan điều phối và tổ chức thể chế để đảm bảo thực thi theo yêu cầu.

Mong rằng cách tiếp cận hệ thống sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà làm Luật cân nhắc trước khi thông qua Dự thảo và xây dựng các cơ chế thực thi triển khai.

Tài liệu tham khảo:

2017. Dự thảo Luật Quy hoạch (lần thứ 8). Vietnam.

CERVERO, R. 2001. Integration of urban transport and urban planning. In: FREIRE M., S. R. (ed.) The Challenge of Urban Government. Washington DC: World Bank Institute.

HEALEY, P. 1999. Institutionalist analysis, communicative planning, and shaping places. Journal-of-Planning-Education-and-Research, 1999, 1211.

HEALEY, P. 2006. Territory, integration and planning. In: PHILIP, A. & MARK, T.-J. (eds.) Territory, Identity and Spatial Planning. Routledge.

HULL, A. 2005. Integrated transport planning in the UK: From concept to reality. Journal of Transport Geography, 13, 318-328.

LIEM, P. S. 2014. Ban ve quan ly phat trien do thi theo quy hoach. Kien truc Viet nam, 2014.

TUROWSKI, G. 2002. Spatial Planning In Germany Structures and Concepts, Hannover, European Community.

WILSON, L. 2016. Overview of the current urban development framework in Vietnam.

 

 

(Nguồn:TS. Nguyễn Ngọc Hiếu - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Sô 87))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website