CÔNG CỤ QUẢN LÝ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1. Lời nói đầu Trong các quy hoạch hiện nay như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung xây dựng thủ đô... đều có nói đến vai trò và sự phát triển của vành đai xanh.

Vành đai xanh phải đáp ứng các yêu cầu như: tạo ra các không gian công viên cây xanh tại các cửa ra vào của khu dân cư, bảo vệ các khu vực nông nghiệp, đặc biệt các khu nông nghiệp năng suất cao dễ bị lũ lụt, bảo tồn các giá trị văn hóa và di sản, thúc đẩy các hoạt động phù hợp với bảo vệ môi trường và phát triển, cho phép một kết nối chặt chẽ hơn giữa các khu vực nông thôn, đô thị và ngoại thành, duy trì sự ổn định của các làng nghề hiện có và phát triển du lịch sinh thái... Tuy nhiên, chức năng, vai trò vành đai xanh và làm thế nào để xây dựng vành đai xanh một cách bền vững thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể... Do đó việc xác định khu vực chuyển tiếp (vành đai xanh) để biến đổi thành giao diện giữa đô thị và nông thôn, với những hình thái sử dụng đa năng như: nghỉ dưỡng, vui chơi, đào tạo, nhà ở mật độ thấp, nông nghiệp hiện đại... nhằm khai thác vai trò và những lợi ích mà nó mang lại là rất cần thiết và bức bách. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi xin đưa ra vài gợi ý về xây dựng vành đai xanh theo quy hoạch phát triển thủ đô Hà Nội, từ đó chỉ ra những định hướng phát triển vành đai xanh phù hợp với quy hoạch của thủ đô Hà Nội.

2. Định nghĩa Vành đai xanh

“Vành đai xanh” là thuật ngữ chỉ những vùng đất tự nhiên chưa hoặc ít chịu tác động của con người, thường ở gần hoặc ngoài rìa những khu đô thị. Vành đai xanh cũng có thể là những vùng đã phát triển cung cấp không gian mở, tạo ra những cơ hội giải trí ngoài trời và phát triển tiếp theo. Các vành đai xanh tự nhiên dọc khu vực đường bờ biển Đông Nam Á, bao gồm cả khu vực rừng đước, được coi là vùng đệm và giúp hạn chế những thiệt hại lớn về người trong trận sóng thần kinh hoàng tháng 12/2004.

Vành đai xanh đô thị là vùng đất thiên nhiên chưa hoặc đã chịu sự tác động của con người, thường ở gần hoặc ở ngoài rìa đô thị. Vành đai xanh cũng có thể là những không gian mở, tạo ra những điều kiện phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch nghỉ dưỡng và giải trí ngoài trời. Vành đai xanh là cầu nối giữa đô thị với thiên nhiên (không gian trung chuyển), có chức năng làm hạn chế việc mở rộng đô thị quá mức ra xung quanh. Nó là một bộ phận cấu thành hệ thống không gian xanh đô thị.

3. Vai trò và tầm quan trọng của các vành đai xanh trong khu vực đô thị 

a. Vai trò của vành đai xanh

Vành đai xanh nếu được quy hoạch, xác định trên cơ sở phân tích rất kỹ lưỡng hiện trạng sẽ có vai trò và lợi ích như sau:

Vai trò của vành đai xanh: 

Ngoài những tác dụng về:

- Bảo vệ môi trường tự nhiên hoặc bán tự nhiên; 

- Cải thiện chất lượng không khí trong khu vực đô thị; 

- Bảo vệ các đặc trưng độc đáo của cộng đồng nông thôn. 

Vành đai xanh còn có vai trò quan trọng như:

- Là cầu nối giữa vùng trung tâm với thiên nhiên;

- Giúp hạn chế việc mở rộng quá mức của đô thị và giữ lại đất trong nông nghiệp, lâm nghiệp;

- Tạo cảnh quan hấp dẫn gần nơi mà người dân sinh sống;

- Ý nghĩa kinh tế.

Vành đai xanh ở trong và xung quanh khu vực đô thị có vai trò rất quan trọng đối với hệ sinh thái của khu vực có nó. Sự đa dạng của các loài thực vật và cây cối trong vành đai xanh giống như bọt biển hữu cơ hút các loại bụi bẩn gây ô nhiễm. Đồng thời, chúng còn là kho chứa khí các-bon-nic giúp giảm sức nóng toàn cầu.

Các vành đai xanh trên thế giới

Khái niệm “vành đai xanh” cũng đã được sử dụng tại Canada.Tại các thành phố Ottawa, Toronto và Vancouver, hệ thống vành đai xanh đã được thiết lập để chống lại sự đô thị hóa quá mức. Các vành đai xanh của đô thị có thể tìm thấy ở xung quanh những thành phố lớn hơn ở Australia, New Zealand, Thụy Điển và Anh Quốc.

Khái niệm “vành đai xanh” đã được biết đến ở nhiều khu vực nông thôn ở Đông Phi. Năm 1977, nhà hoạt động vì môi trường Wangari Maathai đã phát động chương trình Hành động vì vành đai xanh ở Kenya. Hoạt động bao gồm việc trồng cây xanh nhằm chống  phá rừng, xói mòn đất và thiếu nước. Đến nay, tổ chức của bà Wangari Maathai đã trồng được 40 triệu cây xanh ở khắp châu Phi.

Năm 2004, Maathai là nhà môi trường đầu tiên được nhận giải thưởng Nobel vì hòa bình. Tại buổi lễ nhận giải, bà đã phát biểu: “Không có nền hòa bình nào lại thiếu sự phát triển cân bằng và không sự phát triển nào lại thiếu sự quản lý bền vững của môi trường trong một không gian thanh bình và dân chủ”.

3. Hiện trạng vành đai xanh tại Hà Nội

a. Quy mô không gian vành đai xanh tại Hà Nội

“Hành lang xanh” này tập trung chủ yếu từ vành đai 4 tới khu vực sông Đáy, sông Tích, trên địa bàn các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai, Ứng Hoà và Phú Xuyên - Giáp với các đô thị Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên. Hành lang xanh cũng có một phần ở phía Bắc của huyện Mê Linh, khu đồi núi Hầm Lợi gần Sóc Sơn.

Khu vực vành đai xanh có diện tích là 5.295,13 ha (≈ 52,95 km2 ), chỉ chiếm 1,6% tổng diện tích của thủ đô Hà Nội (3.324,92km2 ). Trong đó diện tích chủ yếu là ở khu vực hành lang xanh phía Tây, bao bọc từ ngoài vành đai 4.  Có thể nói, vành đai xanh chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội.

Vành đai xanh sông Nhuệ (của đô thị trung tâm Hà Nội) trong đồ án đã duyệt chạy từ đầu sông Nhuệ (cống Đông Ngạc) nơi tiếp giáp với sông Hồng xuống tận phía Nam huyện Thanh Trì (nằm ở phía Nam sông Hồng, phía Tây Nam Hà Nội). Đây là vành đai xanh rất lớn, diện tích chỗ rộng nhất thuộc khu vực Cổ Nhuế, Xuân Phương (huyện Từ Liêm) rộng khoảng 3km, chỗ hẹp nhất là hai bên bờ sông Nhuệ thuộc quận Hà Đông. Đây là không gian xanh đệm xanh, phân tách khu vực nội đô Hà Nội với khu vực phát triển mới phía Nam sông Hồng tạo nên đặc trưng riêng cho thủ đô Hà Nội mở rộng. Vành đai xanh đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống và sinh hoạt của người dân thủ đô, có chức năng bảo vệ những khu vực tự nhiên quan trọng của thủ đô Hà Nội.

b.Thực trạng vành đai xanh tại Hà Nội

Vành đai xanh tại TP Hà Nội là khu vực chuyển tiếp giữa đô thị và ngoại ô, là khu vực còn bị bỏ ngỏ chưa được nghiên cứu, đề xuất. Đây là một thiếu sót lớn về hành lang pháp [A1] lý dẫn đến việc phát triển đô thị tràn lan, không bền vững. Thực  tế, tại những khu vực này không thể phân biệt được ranh giới giữa đô thị và ngoại ô do việc xây dựng phát triển đô thị tự phát, dàn trải, không có độ nén, làm lãng phí tài nguyên đất đai, cơ sở hạ tầng. 

  • Hiện trạng dân cư tại vành đai xanh

Theo bản đồ hiện trạng khu dân cư trong khu vực vành đai xanh thì khu vực quận Hà Đông và huyện Từ Liêm có mật độ dân số khá cao. Trong khu vực này chủ yếu là nhà ở thấp tầng, được người dân xây dựng thành các nhà hộp bê tông cao 3, 4 tầng. Đối với nhà ở tại các làng xã truyền thống, gồm nhà ở bám theo trục đường làng và nhà ở nông thôn mới xây trên đất nhà ở truyền thống thì các loại nhà này thường có chiều rộng từ 4 - 5m, chiều dài từ 10 - 20m, xây cao 1- 3 tầng, kiểu mái bằng. Ngôi nhà chỉ có một hướng lấy ánh sáng từ mặt trước nên thường bị tối, khả năng chiếu sáng tự nhiên và thông gió rất kém, phải sử dụng đèn điện và quạt để chiếu sáng và làm mát không gian nên rất tốn năng lượng.

Bên cạnh đó, còn rất ít nhà có cấu trúc quy hoạch cũ, đó là nhà 1 tầng ở giữa khu đất, xung quanh là vườn. Vườn trung tâm trồng hoa và cây cảnh tạo cảnh quan, ngoài ra, còn có vườn trồng rau, xây giàn, trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Những kiểu này nhà còn rất ít, chủ yếu là ở các xã thuộc huyện Thanh Trì như Tứ Hiệp, Vĩnh Quỳnh, Tả Thanh Oai. Vườn cây xung quanh nhà vừa đem lại giá trị cảnh quan, giá trị kinh tế vừa có giá trị cải thiện vi khí hậu của khu vực (tạo bóng mát, chắn gió, chắn bớt bức xạ mặt trời, chiếu sáng tự nhiên...).

  •  Hiện trạng sản xuất cây nông nghiệp

Do chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đúng hướng, hiệu quả nên giá trị sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng. Tổng diện tích đất nông nghiệp trong khu vực vành đai xanh là 1.906,75ha chiếm 36,01% tổng diện tích vành đai xanh, bao gồm đất trồng rau, đất trồng lúa, đất trồng hoa màu, đất trồng bưởi, đất trồng hoa. Khu vực nghiên cứu có hiện trạng đất sử dụng trồng các cây nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn (36,01% tổng diện tích vành đai xanh).

Từ Liêm, Thanh Trì trồng chủ yếu là các loại cây hoa (hoa hồng, hoa cúc, thược dược...) và các loại rau (cải, cải xoong, rau dền, rau muống...), ngoài ra còn trồng một số các loại cây ăn quả (chuối, bưởi...) đan xen tuy nhiên số lượng không đáng kể. Các loại rau, hoa được phủ kín bằng lưới, việc sử dụng lưới này để che chắn ngăn ngừa côn trùng thâm nhập (chủ yếu là các loại bướm, bọ cánh cứng, côn trùng...) và tránh rét cho cây. Chính vì có tác dụng ngăn ngừa côn trùng phá hoại nên đã giảm được tối đa lượng thuốc trừ sâu sử dụng, tạo nên sản phẩm an toàn hơn. Tuy nhiên, lưới bao quanh chỉ được sử dụng chủ yếu vào mùa lạnh kết hợp với việc sử dụng bóng đèn để giữ nhiệt độ phù hợp cho cây. Ngoài rau và hoa thì lúa cũng được người dân trồng khá phổ biến, chiếm 42,43% trong tổng số diện tích đất nông nghiệp có trong khu vực vành đai xanh. Đặc biệt, trong khu vực này có một vùng trồng bưởi ở xã Phú Diễn. Bưởi Diễn là đặc sản nổi tiếng của địa phương. Cây bưởi được biết đến không chỉ do quả thơm ngon, có giá trị kinh tế cao mà đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của Từ Liêm. Diện tích trồng bưởi vào khoảng 143,12ha. Mặc dù có giá trị cao về mặt kinh tế và tinh thần nhưng hiện nay những đề tài nghiên cứu cụ thể và chi tiết nhằm bảo tồn và nâng cao năng suất cây bưởi chưa được quan tâm đúng mức. Trong điều kiện quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết.

  •  Hiện trạng mặt nước trong khu vực

 Hiện nay trong khu vực có khoảng 596,93 ha là mặt nước. Không gian mặt nước chủ yếu là các ao nhỏ trong làng, xã, các ao cá (khu vực quận Hoàng Mai). Không gian mặt nước này sẽ được định hướng để giữ gìn và khôi phục hệ thống sông, ao hồ, đầm, cân bằng môi trường sinh thái, tăng cường khả năng tiêu thoát nước đô thị, phát huy giao thông thủy và hoạt động du lịch, vui chơi giải trí.

4. Giải pháp quy hoạch phát triển vành đai xanh tại Hà Nội

Trên thế giới, có nhiều mô hình phát triển chức năng hành lang xanh khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên, tính chất vai trò của nó với đô thị lớn. Nhìn chung có một số mô hình, chức năng sau:

– Đất nông nghiệp và các khu dân cư nông nghiệp.

– Rừng tự nhiên hoặc rừng bảo tồn.

– Các khu du lịch, thể thao, vui chơi giải trí.

– Khu vực nhà vườn, mật độ xây dựng thấp, nhà không để ở mà chỉ để phục vụ làm nhà nghỉ cuối tuần cho người dân đô thị.

– Khu nhà biệt thự mật độ thấp

Đối với thủ đô, hành lang xanh có các chức năng chính là: diện tích đất nông nghiệp, đa dạng sinh học, di sản văn hóa, diện tích phát triển dựa trên bảo tồn, khu vực nông thôn (làng nông nghiệp, làng nghề…). 

4.1.Giải pháp phát triển khu dân cư trong vành đai xanh

a) Đối với vùng nông thôn mới:

Trong khu vực vành đai xanh có rất nhiều khu dân cư hiện hữu. Các khu dân cư này chủ yếu là dân bản địa, đã sinh sống lâu năm. Đối với khu vực này cần đề xuất định hướng phát triển nhà ở sinh thái tại các khu dân cư theo hướng tăng diện tích xanh của cây trồng, có thể tạo ra các khu dân cư sinh thái, tiết kiệm năng lượng, môi trường sạch sẽ. Các giải pháp công nghệ đơn giản như lắp đặt thiết bị cách điện trong nhà hoặc sử dụng các vòi nước được thiết kế hiệu quả thường tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với nhiều loại công nghệ mới.

Nguồn: Dự án nghiên cứu, xây dựng các mô hình thí điểm cấp nước và vệ sinh cho các hộ gia đình - Trường Đại học Xây dựng hợp tác với Trường Đại học Vệ sinh và Y tế nhiệt đới, Đại học Tổng hợp London (LSHTM), Tập đoàn LIXIL (Nhật Bản), Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc), Tổ chức Hợp tác Phát triển Hà Lan (SNV), 2010

Để thực hiện định hướng phát triển nhà sinh thái có hiệu quả đối với ngƣời dân khu vực, các cơ quan quản lý cần xây dựng chương trình giới thiệu cho các cư dân trong khu vực các cách thức thực tiễn với chi phí vừa phải để thực hiện định hướng phát triển. Trong chương trình giới thiệu có thể gồm các biện pháp như: (1) chuyển đổi sang các thiết bị chiếu sáng sử dụng năng lượng hiệu quả, (2) lắp đặt các bể chứa nước mưa trong nhà, (3) sử dụng điều hòa nhiệt độ hiệu quả hơn, (4) tiếp tục tái chế và duy trì nguồn nước, (5) Lắp đặt các tấm pin mặt trời và hệ thống đun nước nóng bằng năng lƣợng mặt trời, (6) trồng thêm cây xanh. Có thể nói rằng đây là một mô hình nhà ở sinh thái thân thiện với môi trường, giảm phát thải, hạn chế sử dụng tài nguyên thiên nhiên, rất phù hợp với các khu vực nông thôn mới.

Nguồn: Dự án nghiên cứu, xây dựng các mô hình thí điểm cấp nước và vệ sinh cho các hộ gia đình - Trường Đại học Xây dựng hợp tác với Trường Đại học Vệ sinh và Y tế nhiệt đới, Đại học Tổng hợp London (LSHTM), Tập đoàn LIXIL (Nhật Bản), Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc), Tổ chức Hợp tác Phát triển Hà Lan (SNV). 2010

b) Đối với khu đô thị mới:

Đế xây dựng đô thị sinh thái cần có các giải pháp đáp ứng với các tiêu chí sau: kiến trúc công trình, sự đa dạng sinh học, giao thông, công nghiệp và kinh tế đô thị:

 - Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối đa nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước. Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian xanh.

- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi.

- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân cư đô thị sẽ sống và làmviệc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới. Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa hơn của người dân. Chia sẻ ô tô con địa phương cho phép mọi người chỉ sử dụng khi cần thiết.

- Công nghiệp của đô thị sinh thái sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể tái sử dụng, tái sản xuất và tái sinh. Các quy trình công nghiệp bao gồm cả việc tái sử dụng các sản phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hàng hóa.

- Kinh tế đô thị sinh thái là một nền kinh tế tập trung sức lao động thay vì tập trung sử dụng nguyên liệu, năng lượng và nước, nhằm duy trì việc làm thường xuyên và giảm thiểu nguyên liệu sử dụng.

4.2.Giải pháp phát triển nông nghiệp trong vành đai xanh

Nông nghiệp bền vững và nông nghiệp hữu cơ rất chú trọng tới tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái cũng như những cách thức thực hành trên khu vực canh tác.Việc phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững sẽ đảm bảo đƣợc an ninh lương thực khu vực, tạo cảnh quan và kết hợp với du lịch sinh thái nông nghiệp. Chính bởi vậy, việc hình thành và phát triển nông nghiệp (trồng lúa, rau, hoa, cây ăn quả...) theo hướng nông nghiệp bền vững là rất quan trọng và cần thiết. Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững gồm: (1) nông nghiệp giá trị cao, (2) nông nghiệp an toàn, (3) nông nghiệp chất lượng cao, (4) nông nghiệp có cảnh quan.

  • Nông nghiệp giá trị cao

Cần đảm bảo về lượng đủ để thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho ngƣời dân. Trong điều kiện khu vực nghiên cứu hiện nay đất dành cho hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, tuy nhiên tỷ lệ này so với diện tích toàn khu vực Hà Nội là nhỏ. Ở đây cần có sự áp dụng các giống cây trồng mới, tạo sản lượng tối đa mà vẫn phù hợp với điều kiện của khu vực. Đưa các giống lúa cho năng suất cao đồng thời có hàm lượng protein cao trong gạo (đạt 11% protein so với gạo phổ biến hiện nay là 7%), giống cây màu như ngô lai, đậu tương... đạt năng suất cao.

  • Nông nghiệp an toàn

Nông nghiệp tại khu vực cần phải cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho ngƣời dân. Vì vậy đây cũng sẽ trở thàn mô hình ứng dụng những công nghệ nuôi trồng sinh thái, với những giải pháp công nghệ về sử dụng phân vi sinh, chu trình sinh học khép kín, quản lý dịch hại tổng hợp...

  • Nông nghiệp chất lượng cao

Tiếp theo số lượng và an toàn, nông nghiệp cần tiến tới đảm bảo chất lượng cao. Chất lượng ở đây đƣợc đánh giá theo mức độ ngon của thực phẩm. Để đạt được mục đích này điều quan trọng vẫn là sự lựa chọn cây trồng, vật nuôi và phƣơng pháp tăng gia sao cho đạt chất lượng cao. Để đảm bảo chất lượng thực phẩm cần phải có một hệ thống kiểm định ngặt nghèo trước khi sản phẩm được xuất ra ngoài thị trường. Có thể áp dụng một số hình thức để đảm bảo chất lượng như dán tem chất lượng, nhãn sinh thái... Nông nghiệp chất lượng cao dành cho việc thỏa mãn nhu cầu được xã hội công nhận. Khẩu vị từng người có thể rất khác nhau nhưng đa số người sẽ cảm thấy yên tâm khi tiêu dùng những sản phầm được dán mác chất lượng.

  • Nông nghiệp cảnh quan

Hệ thống sản xuất nông nghiệp được thiết kế, quy hoạch để trở thành cảnh quan du lịch sinh thái, có ý nghĩa với con ngƣời. Bản thân nông nghiệp bình thường với những cánh đống lúa xanh rì, những luống hoa, luống rau đủ màu sắc, những vườn cây ăn quả cũng có thể là những cảnh quan vô cùng ấn tƣợng. Để đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên, nông nghiệp sẽ được phát triển bền vững theo hướng hình thành các khu Nông nghiệp áp dụng công nghệ cao.

Khả năng ứng dụng cao trên một vùng chuyên canh sẽ tạo nên khối lượng hàng hóa lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tại vùng. Bên cạnh đó, việc sử dụng một số công nghệ cao phù hợp với một số khâu canh tác nên chi phí đầu vào giảm, phù hợp với khả năng đầu tư của người nông dân.

Trên đây là một số nội dung bước đầu đã xây dựng được cơ sở cho việc định hướng phát triển khu vực Vành đai xanh của Hà Nội,  sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn và cụ thể hơn nhằm phát triển Vành đai xanh theo quy hoạch của Thủ đô Hà Nội bền vững.


 [A1]

(Nguồn:Th.S KTS. Nguyễn Thị Hồng Diệp - Tạp chí quy hoạch số 93)
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website