Bảo tồn

Nông thôn Việt Nam, một khu vực có hơn 70% dân số cả nước đang làm ăn và sinh sống. Bức tranh nông thôn và người nông dân Việt Nam sẽ ra sao khi Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn và trở thành nước cơ bản công nghiệp hóa. Đây là vấn đề các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn hóa đang tập trung nghiên cứu.

Đặc biệt đối với việc quy hoạch xây dựng khu vực nông thôn là công việc mang tính tiền đề, có tầm quan trọng trước mắt cũng như lâu dài giúp hoạch định phát triển các không gian trên địa bàn xã nông nghiệp một cách toàn diện, đáp ứng tốt các yêu cầu của Đảng và Chính phủ về xây dựng tam nông “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt là việc xây dựng nông nghiệp, nông thôn”.

Để thành công trong việc phát triển nông thôn một cách bền vững cần thiết có sự liên kết giữa quy hoạch, bảo tồn và nông nghiệp để các khu vực nông thôn khai thác được các tiềm năng và phát triển theo đúng quy hoạch và có sự phát triển hệ thống gắn với phát triển đô thị cũng như bảo tồn được các giá trị văn hóa của dân tộc.

Mở đầu

Việt Nam một đất nước phát triển từ nông nghiệp với hơn 70% dân số đang sinh sống và làm việc ở nông thôn với một lịch sử lâu đời. Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện tại các khu vực nông thôn đổi mới từng ngày và dẫn đến khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Đô thị hóa làm mất đi những nét truyền thống của nông thôn Việt Nam, những kiến trúc làng xã được thay vào là kiến trúc hiện đại, văn hóa làng xã được thay thế bằng văn hóa, lối sống đô thị… Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Hiện tại các vùng nông thôn phát triển đều phát triển theo lối đô thị, các vùng phát triển nông nghiệp mạnh đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề… mất đi tính thuần nông của làng xã Việt Nam.

Một vấn đề nữa còn gây nhiều bức xúc là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, doanh nghiệp và các cộng đồng nông thôn cùng thực hiện việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Vậy việc nghiên cứu quy hoạch và bảo tồn các khu vực nông thôn để ghi lại những dấu ấn lịch sử phát triển xã hội, nhưng lại có những mối liên hệ với các khu vực đô thị để nhằm nâng cao đời sống người dân nông thôn cũng như giảm được khoảng cách giữa đô thị và nông thôn là một vấn đề vô cùng cần thiết

Lịch sử phát triển và mối liên hệ giữa nông thôn và đô thị

Khi con người biết trồng trọt thì dần dần định cư, nông thôn hình thành. Nền văn minh săn bắn, hái lượm chuyển sang nền văn minh chăn nuôi, trồng trọt, công xã nông thôn ra đời thay thế cho công xã thị tộc. Công xã nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho nghề trồng trọt và chăn nuôi phát triển. Trồng trọt và chăn nuôi phát triển lại đòi hỏi phải trao đổi những sản phẩm làm ra, đòi hỏi phải có những công cụ để sản xuất. Do đó, từ công xã nông thôn dần dần xuất hiện xã hội đô thị và sau đó là nền văn minh công nghiệp ra đời. Xã hội đô thị hình thành dựa trên cơ sở của xã hội nông thôn nhưng khi nó phát triển lại trở thành lực lượng bóc lột nông thôn, đẩy nông thôn xuống lạc hậu, đói nghèo. Đến một mức độ nhất định sự lạc hậu, chính sự đói nghèo của nông thôn kìm hãm sự phát triển của nông thôn. Ngày nay, sự phát triển hài hoà của nông thôn và đô thị đi cùng với sự phát triển của văn minh tin học. Trong tương lai xã hội nông thôn và xã hội đô thị không có ranh giới ngăn cách.

Sự xích lại gần nhau giữa nông thôn và đô thị là quá trình làm cho nông thôn phát triển cả về kinh tế và xã hội lên ngang với sự phát triển chung của xã hội, là quá trình làm cho các yếu tố tích cực tốt đẹp của đô thị xâm nhập vào nông thôn và ngược lại.

Đặc điểm của khu vực nông thôn

Nông thôn mang nhiều yếu tố tự nhiên: Nhà, vườn, ao, ruộng. Chúng thường gắn với những điều kiện địa lý sẵn có, ít được cải tạo nên chưa thuận tiện cho sinh hoạt giao lưu kinh tế văn hoá…

Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp (thường chiếm từ 50% lao động trở lên). Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình.

Chính trị ở nông thôn: Ngoài hệ thống chính quyền xã, ấp, thôn do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo…

Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội, ca hát, hò, vè, kể chuyện… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất… từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển.

Di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh được ra đời từ rất sớm, phần lớn làm bằng chất liệu hữu cơ, tồn tại trong khí hậu nhiệt đới nên rất chóng bị hủy hoại. Hơn thế nữa trong một thời gian dài đất nước bị chiến tranh, các di tích không được chăm sóc, sửa chữa, nên đều có nhu cầu bảo tồn và phát huy giá trị. Có một thời kỳ đất đai và một số di tích được sử dụng vào những mục đích kinh tế xã hội khác như làm trụ sở ủy ban nhân dân xã, phường, vườn trẻ, nhà mẫu giáo, kho thóc,… đất di tích được phân cho các cơ quan, đoàn thể và nhân dân sử dụng. Một số người được giao quản lý trực tiếp di tích (sư, ni, cụ từ…) đã tự động cho người vào ở, đến nay khi di tích được xếp hạng, các hoạt đọng của ngày xưa ấy đang trở thành gánh nặng mà các dự án quy hoạch cần tính đến.

Thực trạng công tác quy hoạch nông thôn

Nông thôn Việt Nam đang quy hoạch xây dựng nông thôn mới với mong muốn đạt đến trên cơ sở bảo tồn được những giá trị văn hoá truyền thống, bộ mặt nông thôn ngày càng được cải thiện, có đời sống vật chất và văn hoá tinh thần ngày càng phong phú. Trong xây dựng nông thôn mới, văn hóa giữ vai trò quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và mục đích cuối cùng của xây dựng nông thôn mới chính là nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người dân.

Thực trạng ở một số khu vực nông thôn đã được quy hoạch theo các tiêu chí của nông thôn mới đã cảm nhận được nét hài hoà đan xen giữa cổ kính với hiện đại. Hệ thống các thiết chế văn hoá như đình, đền, chùa, văn chỉ, lễ hội của làng được bảo tồn nguyên vẹn. Trong xu thế phát triển, nhiều con đường được mở rộng, bê tông hoá. Nhiều địa phương còn xây dựng các làng văn hoá, các khu dân cư kiểu mới, thống nhất quy định cụ thể về nhà ở, vườn, hàng rào, cây xanh, cảnh quan làng quê sạch sẽ ngăn nắp, ứng xử giao tiếp văn minh, giữ vững an ninh trật tự… Trong quá trình thực hiện, nhiều địa phương cố gắng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tạo dựng môi trường văn hoá hài hoà, qua đó thúc đẩy quá trình dựng nông thôn mới một cách bền vững.

Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai diện rộng trên khắp cả nước, bước đầu đã đạt được những kết quả lạc quan, mang lại những chuyển biến tích cực ở nhiều vùng nông thôn. Song, công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch nông thôn mới trong các đô thị lớn lại đang gặp nhiều vấn đề gây tác động không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả thực hiện.

Các chính sách về nông thôn mới nhiều nhưng nội dung chỉ bàn về nông thôn nói chung còn chưa tập trung phân tích và làm rõ những khác biệt của nông thôn nói chung với nông thôn trong đô thị. Cho đến nay, vẫn còn thiếu một quy trình hoàn chỉnh, riêng biệt cho công tác lập quy hoạch xây dựng nông thôn trong đô thị là khu vực chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn. Nếu có được đề cập đến thì thường rất sơ bộ, lồng ghép trong quy hoạch chung đô thị hay trong bản đồ định hướng phát triển không gian đô thị đến hết thời hạn quy hoạch.

Theo Quy hoạch chung xây dựng của các đô thị lớn thì có một số xã được định hướng đô thị hóa. Trong khi đó, chương trình xây dựng Nông thôn mới của các thành phố đề ra là phải hoàn thành xây dựng nông thôn mới cho toàn bộ các xã này. Vậy có sự trùng lặp về ranh giới và nội dung giữa quy hoạch xã nông thôn mới với quy hoạch xây dựng đô thị hoặc định hướng phát triển đô thị nói chung.

Thực tế trong quy hoạch nông thôn qua những bản vẽ “quy hoạch mẫu” về nông thôn mới của cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện nhận ra ngay đó là những quy hoạch thị trấn hóa nông thôn, những thiết kế gần như chỉ là định hướng theo sự phát triển kinh tế mà thiếu bền vững. Các xóm làng miền xuôi cũng như miền ngược đang thay da đổi thịt trong sự thiếu quy hoạch, hoặc quy hoạch manh mún, tự phát, thiếu sự kết nối đồng bộ, thiếu hiểu biết, thích phô trương. Nhiều làng quê giầu lên nhờ có nghề thủ công truyền thống hoặc kịp thời đổi mới tư duy sản xuất..., đang mọc lên nhan nhản những công trình vay mượn từ thành thị một cách tuỳ tiện, tự phát, không ai nghiên cứu, hướng dẫn. Đó là sự khuyếch tán ấu trĩ kiến trúc thành thị: Thay thế những nếp nhà cổ truyền bằng kiểu nhà ống, nhà nhiều tầng, dạng biệt thự... Nhiều vùng dân tộc ít người vốn ở nhà sàn, nay cũng theo miền xuôi xây dựng các kiểu nhà bằng vật liệu kiên cố, kiểu dáng nhà theo đó cũng “Xuôi hoá”. Cấu trúc không gian tại nhiều vùng quê có nguy cơ tan vỡ, đang phai dần bóng dáng những nếp nhà tranh tre nứa lá, những nhà ngói cây mít, ẩn hiện sau luỹ tre xanh với chiếc cổng làng đã trở thành dấu ấn của một thời để trở thành những tụ điểm dân cư khó mà xác định là thị trấn, thị tứ hay nông thôn. Đáng quan tâm hơn nữa là trong xu thế kiến trúc nông thôn đang “thành thị hoá” thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật lại không được quy hoạch, cải tạo lại, hoặc quy hoạch manh mún thiếu sự kết nối toàn vùng, nên đã phá vỡ cấu trúc không gian truyền thống, gây ô nhiễm rất nặng nề.

Vấn đề cần giải quyết trong quy hoạch nông thôn

Quy hoạch xây dựng nông thôn hay quy hoạch nông thôn mới là quy hoạch liên quan đến quy hoạch sản xuất theo chủ trương tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp với mô hình sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, cần hoàn thiện các nội dung nghiên cứu và tổ chức quy hoạch nông thôn mới , đồng nghĩa với nhấn mạnh tầm quan trọng và đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác nghiên cứu cơ bản và khảo sát hiện trạng phục vụ quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đặc biệt với quy hoạch khu vực nông thôn trong đô thị, giảm được sự đô thị hóa cưỡng bức với vùng nông thôn, khai thác các động lực sản xuất kinh doanh thế mạnh và có sự kết nối với các nội dung tổ chức không gian với quy hoạch đô thị.

Trong quy hoạch nông thôn từng bước phát triển để thay đổi theo hướng tạo ra một vùng đô thị - nông thôn hiện đại kết hợp hài hòa giữa đô thị và nông thôn. Trong vùng đô thị có nông thôn và trong nông thôn có chất lượng sống của đô thị. Những làng nghề thủ công có thể kết hợp với du lịch được đầu tư phát triển mạnh, những làng nông nghiệp được chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng chuyên canh và chất lượng cao. Nông thôn vẫn giữ lại kiến trúc làng xã truyền thống, các nét đẹp văn hóa truyền thống (lễ hội, dân ca dân vũ, hương ước. Đặc biệt ở đây là người dân được hưởng các dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng) và cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, thông tin liên lạc, truyền thông) không kém (thậm chí tốt hơn) người dân ở phố thị. Chính nông thôn trong đô thị là nơi cân bằng các giá trị sống cho thị dân. Đặc biệt với quy hoạch khu vực nông thôn trong đô thị, giảm được sự đô thị hóa cưỡng bức với vùng nông thôn.

Quy hoạch nông thôn cần xác định hình thái xen cài giữa thành phố, thị xã và làng mạc, giữa các khu dân cư hiện đại với đồng ruộng, giữa cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện đại và hạ tầng nông thôn lạc hậu đang hình thành, không nên phân định rõ ràng một vùng hay khu vực ngoại thành như một không gian cứng như trước. Cần thay đổi tư duy trong phát triển nhất là chính sách đầu tư, nếu trước kia cần dành phần đầu tư nhiều nhất cho nội thành, phần ngoại thành không đáng kể thì nay cần phải hiểu bất cứ thay đổi tích cực hay tiêu cực nào của một khu vực đều tác động đến toàn vùng và hệ thống các đô thị. Một ví dụ trước kia cho dù ngoại thành nghèo, lạc hậu, nhiều tệ nạn thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến nội thành vì chúng tồn tại khá biệt lập về địa giới hành chính và không gian, nhưng ngày nay nếu một khu vực nông thôn xen cài giữa các đô thị đóng vai trò như một “vùng đệm” bị ngập úng, hệ thống giao thông đi ngang qua bị phá hủy, tệ nạn xã hội tăng cao, rác thải rắn gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, công trình xây dựng bị ách tắc thì ngay lập tức các thành phố, thị xã kế cận bị ảnh hưởng trực tiếp. Vậy chúng ta không được quên vùng nông thôn xen cài trong vùng đô thị.

Mỗi Làng có lịch sử phát triển của mình. Lịch sử ấy được ghi bằng những công trình và quần thể công trình kiến trúc. Làng quê Việt Nam nói chung, các làng nghề nói riêng đều phát triển dưới hai dạng: Tôn tạo - Hoàn thiện (ở những khu vực đã hình thành qua chiều dài lịch sử), và mở rộng, xây dựng mới (Do nhu cầu phát triển của sản xuất và đời sống). Mỗi dạng phát triển này đòi hỏi những định hướng Kiến trúc - Quy hoạch tương ứng phù hợp với đặc thù của mỗi vùng miền khác nhau.

Đặc biệt với các Làng có truyền thống lâu đời, lại trải qua biết bao nhiêu biến động và gập ghềnh trong biến thiên của lịch sử, nhất là các Làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta không thể tránh khỏi không bao chứa ngay trong bản thân nó những yếu tố mang tính hạn chế khả năng phát triển: Mật độ xây dựng dày đặc, mật độ cư trú cao, hạ tầng kỹ thuật còm cõi, lạc hậu và quá tải. Đó là những vòng đai thép ngày càng bó chặt nhiều nhu cầu phát triển của các Làng nghề. Đến một thời điểm nào đó, khi sức chịu đựng tới hạn, mọi sự chỉnh trang, hoàn thiện trong lòng nó trở nên vô nghĩa, thì các Làng nghề phải vượt qua khỏi những gò bó của khuôn khổ đã định hình bằng những cách nhìn, những tư duy cùng những giải pháp mạnh bạo hơn, cơ bản hơn... bằng một quy hoạch bài bản, có tính kế thừa và bền vững.

Trong quy hoạch nông thôn mới cần có quy hoạch sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại có tính đến đặc thù của nông thôn mới trong điều kiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Thực tế quy hoạch nông thôn và mối liên kết đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa. Nông thôn và vùng phụ cận đô thị chính là nơi cung cấp hệ sinh thái, tài nguyên, hàng hóa cho các đô thị, thành phố lớn. Trong những năm gần đây, dưới tác động của đô thị hóa, các đô thị đang có sự thay đổi mạnh mẽ, song tỷ lệ nông thôn vẫn còn cao nên gặp nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội nhất là vùng ven đô. Vậy việc nghiên cứu liên kết giữa đô thị và quá trình phát triển nông thôn như là việc nghiên cứu quy hoạch tổng thể. 

Trên thực tế, xây dựng nông thôn mới chính là việc thực hiện đầy đủ chín tiêu chí, bao gồm: quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, y tế - văn hóa - giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh, trật tự xã hội và có ban chỉ đạo. Hiện nay, tốc độ đô thị hóa đang diễn ra khá nhanh ở các địa phương, do vậy việc xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa là tất yếu. Đây cũng là yêu cầu mới đặt ra đối với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho phù hợp thực tiễn phát triển. Xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa nhằm hình thành khu vực dân cư và cơ sở hạ tầng phù hợp tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tái cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Qua đó, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa nhằm định hướng quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, môi trường và các dịch vụ xã hội phù hợp định hướng đô thị hóa, nhằm từng bước liên kết giữa đô thị và nông thôn trên địa bàn, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư, phù hợp với Quyết định 676/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn cấp huyện giai đoạn 2017-2020. Theo đó, yêu cầu các địa phương tập trung phát triển hệ thống hạ tầng xã hội, dịch vụ thương mại trên cơ sở hoàn thiện các giải pháp về quy hoạch.

(Nguồn:Ths.KTS. Lê Minh Ánh - Taph chí Quy hoạch (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website