Vùng đồng bằng sông cửa long thích ứng với BĐKH

Mở đầu Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, đặc biệt là phát triển nông nghiệp.Bên cạnh những tiềm năng, lợi thế sẵn có, ĐBSCL cũng phải luôn đối mặt với không ít khó khăn và hạn chế trong điều kiện tự nhiên, với những tác động không nhỏ và khôn lường từ thiên tai như ảnh hưởng của lũ ở vùng đầu nguồn; xâm nhập mặn ở vùng ven biển; đất nhiễm phèn và sự lan truyền nước chua ở những vùng thấp trũng; thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt ở những vùng xa sông, gần biển; và xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng…

Đặc biệt, trong các thập niên gần đây, ĐBSCL đã và đang gánh chịu những tác động khá mạnh mẽ do biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng (NBD) cũng như sự phát triển thượng nguồn sông Mê Kông, trong đó lũ có những biến động ngày càng lớn giữa năm lũ lớn và lũ nhỏ, triều cường, hạn hán nghiêm trọng hơn, bão nhiều và mạnh hơn... BĐKH ngày càng thể hiện rõ nét và diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên 2 yếu tố dòng chảy từ thượng lưu và NBD với các giá trị cực trị xảy ra nhanh và ngày càng khốc liệt hơn[1]. Vì vậy việc lồng ghép các yếu tố thiên tai và BĐKH vào QHXD nói chung và QHXDNT nói riêng ở ĐBSCL hết sức cần thiết.

Đặc điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Với lịch sử phát triển lâu đời gắn với yếu tố nước, hệ thống các đô thị các điểm dân cư tập trung trong vùng đều phát triển ven sông nhằm tận dụng lợi thế từ hệ thống sông, ngòi, kênh rạch.Tuy nhiên, trong bối cảnh BĐKH thì đây lại là thách thức đối với phát triển của vùng ĐBSCL.

Vùng ĐBSCL có địa hình bằng phẳng hầu hết có cao độ trung bình từ 0,7-1,2m, dọc theo biên giới Campuchia cao hơn với cao độ từ 2,0-4,0m, sau đó thấp dần xuống trung tâm đồng bằng với cao độ 0,8-1,2m và chỉ còn 0,3-0,5m ở khu vực giáp triều và ven biển.

Thêm vào đó, chế độ thuỷ văn ở đây chịu tác động trực tiếp của dòng chảy thượng nguồn, chế độ triều biển Đông, một phần của triều vịnh Thái Lan và phân thành 3 vùng chính: (i) Vùng ảnh hưởng chủ yếu từ dòng chảy lũ thượng lưu; (ii) Vùng ảnh hưởng lũ-triều; và (iii) Vùng ảnh hưởng triều là chính. Dòng chảy trên dòng chính Mê Kông chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa lũ ngập khoảng 1,2-1,9 triệu ha, độ sâu ngập từ 0,5m-4,5m. Mùa kiệt mặn 4 g/l xâm nhập sâu trên dòng chính từ 30-40km, gây khó khăn cho việc cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt nhất là vùng xa sông gần biển.

Hình thái phân bố dân cư vùng ĐBSCL còn được dựa trên phương diện tiểu vùng do các đặc điểm điều kiện tự nhiên, sinh thái môi trường, hoạt động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp và công nghiệp, kết nối giao thương, mạng lưới giao thông thủy bộ và điều kiện cư trú. Theo các đặc điểm này vùng ĐBSCL được phân thành sáu tiểu vùng[2].

Tiểu vùng Đồng Tháp 10: Nơi có rốn lũ ngập sâu trên 3m chiếm tới 260.000 ha dọc theo biên giới với Campuchia thuộc Long An, Đồng Tháp, Châu Đốc thuộc Tứ Giác Long Xuyên với thời gian thoát lũ trên 4 tháng. Dân số trong vùng ngập sâu khoảng 1,127 triệu người, mật độ dân cư thấp nhất vùng 18 người/km2

Tiểu vùng giữa sông Tiền và Hậu: Trừ phần đất cao ven 2 bên bờ sông, phần lớn đều bị ảnh hưởng bởi ngập lũ khoảng 3 tháng, ngập 1.5-3m, nên người dân thường làm đê bao quanh đất vườn và thổ cư. Đây là khu vực trù phú nhất ĐBSCL vơi dân số 4 triệu người, mật độ dân số cao hơn các vùng khác khoảng 1000-1200 người/km2

Tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên: Trừ khu vực Tri Tôn (An Giang) và các núi ở Kiên Giang và ven sông Hậu, có khoảng 400.000 ha thường xuyên bị ngập lũ từ 1,5-3m với thời gian 3 tháng, có khoảng 3,5 người sống trong vùng lũ.

Tiểu vùng Tây sông Hậu: là vùng trong lúa có năng suất cao nhất ĐBSCL. Lũ ngập từ 1,5-2m với 80% diện tích và lũ thoát chậm ra biển Tây nên có nhiều phù sa.

Tiểu vùng bán đảo Cà Mau: là vùng có hệ sinh thái đa dạng nhất. Hàng ngày có sự thay đổi mạnh giữa biên của nước ngọt, lợ và mặn và ảnh hưởng chế độ bán nhật triều và một phần lũ. Ở vùng trung tâm và phía Bắc là vùng nước ngọt trồng lúa.Ven bờ biển Đông Tây là hệ sinh thái ngập mặn.

Tiều vùng ven biển Đông: nhờ các bãi phù sa ở cửa châu thổ nên có các khu đất cao hơn phía biển Tây. Tiểu vùng có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế biển, các vườn chuyên canh nhưng thiếu nước ngọt cho sản xuất và dân sinh do xâm ngập mặn với biên độ triều lớn, có bị ảnh hưởng bởi bão.

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ nét và diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên hai yếu tố dòng chảy từ thượng lưu và nước biển dâng.Nếu như tác động của BĐKH lên giá trị trung bình xảy ra từ từ, phải mất hàng chục năm, thì tác động lên các giá trị cực trị xảy ra nhanh và ngày càng khốc liệt hơn. Trong 10 năm qua, ĐBSCL đã xuất hiện 3 năm lũ lớn liên tiếp là 2000, 2001 và 2002 (trong đó lũ năm 2000 được xem là lũ lịch sử). Tám năm liền có lũ dưới trung bình và nhỏ (trong đó có lũ năm 2008 và 2010 là 2 năm lũ nhỏ lịch sử), 8 năm liền dòng chảy kiệt dưới trung bình (trong đó năm 2004, 2008 và 2010 là những năm thấp hơn cả, gây hạn hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn sâu); bão lớn đổ bộ vào 2 năm 1997 (Linda) và 2006 (Durian); xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi với số lần tăng hơn (trên sông Tiền các năm 2001, 2002, 2004, 2005, sông Hậu các năm 2009, 2010 và ven biển Cà Mau 2 năm gần đây); cháy rừng xảy ra vào năm 2002 ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng; tố lốc xuất hiện ngày càng nhiều và nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm.

Những đặc điểm trên cho thấy khu vực ĐBSCL sẽ có khả năng ngày càng bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi BĐKH, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan nếu chúng ta không có những chiến lược, giải pháp phát triển phù hợp có cân nhắc tới các vấn đề BĐKH đặc trưng của khu vực này nhằm đảm bảo phát triển bền vững.

Do đặc điểm tự nhiên, dân cư phát triển chênh lệch giữa các khu vực trong vùng. Phía bắc vùng ĐBSCL như vùng Đồng Tháp Mười có diện tích rộng lớn nhưng dân cư thưa thớt, các khu vực phát triển công nghiệp, đô thị tập trung nhiều ở phía Đông Bắc và Tây Nam (Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau và các đô thị dọc sông Tiền, sông Hậu và các trục Quốc lộ) với hạ tầng thuận lợi kết hợp khai thác kinh tế biển. Cùng với phát triển dân cư và kinh tế, để khắc phục những bất lợi từ điều kiện tự nhiên, đáp ứng với nhu cầu phát triển, các giải pháp hạ tầng đã và đang được thực hiện một cách toàn diện, đặc biệt là hạ tầng ứng phó với bất lợi của điều kiện tự nhiên. Hàng loạt công trình thuỷ lợi ra đời như đê bao, bờ bao, các kênh vận chuyển, đóng các cửa sông (tạm thời) và tăng khả năng giữ nước…, là động lực và đòn bẩy quan trọng cho vùng ĐBSCL có cơ hội và điều kiện phát triển nhanh chóng hơn.

Tuy nhiên phát triển cơ sở hạ tầng trong vùng đang ngày một khó khăn trước điều kiện tự nhiên và BĐKH như: nhu cầu về phòng chống lũ lụt và sử dụng tài nguyên nước ngày càng tăng, thống đê điều kiên cố làm mất đi các khu trữ nước, gây ra tác động tiêu cực đến công tác phòng chống lũ lụt ở hạ lưu, cung cấp nước ngọt ngày càng khó khăn trong mùa khô, xung đột về sử dụng đất giữa thủy sản và lúa, lún đất và cạn kiệt nguồn tài nguyên nước ngầm, lũ lụt và hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng[3].

Tác động biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Tác động BĐKH và NBD đối với vùng ĐBSCL có liên quan mật thiết đến BĐKH vùng thượng lưu sông Mê Kông. Theo Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD, dưới tác động của BĐKH và NBD, ngập lụt và xâm nhập mặn sẽ là 2 tác động lớn nhất, chi phối các tác động khác đến vùng ĐBSCL.

Xâm nhập mặn:Ứng với kịch bản dòng chảy kiệt thượng lưu giảm 15%, đối với ranh mặn cao nhất, độ mặn 4 g/l, trên sông Tiền qua TP. Mỹ Tho 17km (cao hơn hiện nay 20 km) và trên sông Hậu ngang TP. Cần Thơ (cao hơn hiện nay 15 km). Nguồn nước các bị nhiễm mặn ảnh hưởng vô cùng lớn tới nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp (có vai trò quan trong nhất của vùng) và dân sinh.

Ngập lụt: Kết quả mô phỏng thuỷ lực cho thấy, đến năm 2050 do lũ thượng lưu tăng 15%, mực nước lũ tuỳ từng vùng có thể tăng 30-40cm. Do mực NBD, mực nước trong đồng bằng có thể tăng 12-17 cm. Tổng hợp tác động bởi 2 yếu tố trên, mực nước ở ĐBSCL có thể gia tăng từ 50-60 cm. Điều này dẫn đến ngoài các khu vực thường xuyên ảnh hưởng bởi ngập lũ hiện nay, sẽ có thêm các khu vực khác như Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng… bị ngập trên 1,0 m, nghiêm trọng nhất là Cần Thơ và Vĩnh Long. Trong mùa lũ, thời gian ngập (xét với mức ngập >0,5 m) kéo dài từ 2-5 tháng hiện nay sẽ tăng lên 5-7 tháng5.

Ngoài ra hiện tượng sạt lở bờ biển và bờ sông sẽ có khả năng xảy ra trầm trọng hơn ở các khu vực ven sông Tiền, sông Hậu và khu vực Cà Mau làm thiệt hại về tài sản và tính mạng người dân.Ảnh hưởng, hậu quả này không chỉ do tác nhân BĐKH làm suy giảm lưu lượng dòng chảy, nước biển dâng triều cường mà còn do các hoạt động của con người như khai thác cát trên sông, phát triển lấn chiếm diện tích mặt nước, thay đổi dòng chảy tự nhiên… Các hoạt động này cần được quy hoạch và quản lý chặt chẽ hơn nữa.

Các giải pháp QHXD và QHNT

Để ứng phó với BĐKH, Chính phủ, các Bộ, Ngành và các địa phương đã có những chương trình, quy hoạch nhằm ứng phó với BĐKH như Điều chỉnhQuy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050; Quy hoạch cấp nước, thoát nước Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL năm 2020; Quy hoạch thủy lợi vùng ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD; Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trong điều kiện BĐKH; Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang; Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL... Các quy hoạch này đã và đang góp phần nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH trong vùng. Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL triển khai trong 10 năm qua 2 giai đoạn đã mang lại hiệu quả rõ rệt tại một số tỉnh như An Giang. Ví dụ tại huyện Tri Tôn (An Giang) cụm tuyến dân cư vượt lũ (CTDCVL), được đầu tư xây dựng ở vị trí thuận lợi nên hàng trăm ngôi nhà đã được người dân đến ở, là mùa lũ nên nhu cầu ở của người dân lại càng cao hơn. Ngoài những hộ được nhận nhà ở, thì còn rất nhiều hộ nghèo sống ven sông rạch, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở chưa được chuyển đến nơi ở an toàn.

Tuy nhiên, tại một số địa phươngCTDCVLvẫn chưa đạt được hiệu quả do người dân không vào sống tại các khu này gây lãng phí lớn. Nguyên nhân do kết nối hạ tầng (giao thông, điện, nước, VSMT...) còn thiếu và chưa đảm bảo được sinh kế cho người dân so với nơi ở cũ. Trên thực tế, nhiều hộ dân đang bám víu ở những khu vực không còn bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, họ lại từ chối khi địa phương cấp nền trong các CTDCVL. Lý do chính là tập quán sinh sống của cư dân gắn liền với sông nước hoặc gần chợ, tiện lợi cho việc mưu sinh, đi lại. Trong khi đó, phần lớn các CTDCVL lại được quy hoạch ở giữa đồng, cách xa khu vực buôn bán. Cuộc sống mưu sinh của người dân càng khó khăn hơn bởi không có việc làm, không có thu nhập vì vậy họ lại bỏ về sống ven sông. Chính bất cập đó dẫn đến nghịch lý khu dân cư bị bỏ hoang trong khi người dân vẫn sống trong các khu vựcrủi ro sạt lở. Ngoài ra còn một số vướngtrong việc thực thi chính sách về hỗ trợ tài chính, chuyển nhượng và an sinh xã hội.

          Bên cạnh những mặt tích cực thì một số giải pháp ứng phó thiên tai trở nên kém hiệu quả trong điều kiện BĐKH và NBD. Hệ thống đê điều kiên cố đã làm mất đi các khu trữ nước, gây ra tác động tiêu cực đến công tác phòng chống lũ lụt ở hạ lưu. Giải pháp cấp nước vùng (Cần Thơ và An Giang) mặc dù giảm thiểu rủi ro xâm nhập mặn nhưng vấn đề kết nối mạng lưới tới các khu dân cư không phải dễ dàng.

          Việc ứng phó với BĐKH cho các điểm dân cư nông thôn trong QHXDNT cần phải thực hiện một cách tổng thể từ chiến lượng thích ứng chung giải pháp về quy hoạch xây dựng vùng tới các xã, điểm dân cư nông thôn.

Chiến lược thích ứng

- Sống chung với lũ: Quy hoạch xây dựng ĐBSCL gắn liền với ứng phó thiên tai và BĐKH trong đó ngập lụt yếu tố quan trọng hàng đầu tác động đến chiến lược thích ứng. QHXD cần lựa chọn chiến lược sống chung với lũ, đảm bảo xây dựng các giải pháp linh hoạt, mềm dẻo, hiệu quả, lâu dài và “không hối tiếc” trong điều kiện BĐKH.

- Quản lý tổng hợp hệ thống sông Mê Kông: Hợp tác với các nước trong lưu vực sông Mê Kông để cùng chia sẻ lợi ích chung của sông Cửu Long trong việc phát triển cả lưu vực để giảm thiểu lũ lụt và hạn hán.

- Phát triển kinh tế trong một quy hoạch tổng thể: Cần tính toán lại, xây dựng một quy hoạch tổng thể, gắn phát triển của các ngành kinh tế với không gian của vùng, phù hợp với điều kiện tự nhiên môi trường của từng khu vực.

Giải pháp về QHXD vùng

Phân vùng phát triển phù hợp:Cần nghiên cứu sự phân vùng phát triển trong mối quan hệ với tác động của sự thay đổi thiên tai, đặc biệt là tác động qua lại giữa lũ lụt và xâm nhập mặn, giữa thượng nguồn và hạ nguồn, giữa các vùng chịu tác động khác nhau: ven biển (biển Đông và biển Tây) - trung tâm đồng bằng - thượng lưu (giáp biên giới Việt Nam-Cam Pu Chia), giữa chính sách quốc gia và sự phát triển cả lưu vực, giữa tác động hiện tại và nguy cơ từ BĐKH và NBD trong tương lai. Để thích ứng với thiên tai và BĐKH, NBD, việc phân vùng phát triển cần dựa trên 2 nhiệm vụ chiến lược[4]:

- Phát triển kinh tế trên cơ sở dòng chảy kiệt sông Mê Công và xâm nhập mặn vì đây được coi là giới hạn về nguồn nước cho vùng. Quản lý dòng chảy kiệt được xem là chiến lược quan trọng nhất đối với sự phát triển của ĐBSCL.

- Bảo vệ con người và tài sản trên cơ sở kiểm soát lũ ở vùng ngập lụt và NBD, thực hiện tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL, đồng thời lợi dụng tối đa nguồn lợi từ lũ.

Vì vậy cần thay đổi cách phân vùng phát triển dựa trên sự thay đổi tác động của tự nhiên và chức năng phát triển, gồm 3 vùng:

- Vùng trên đồng bằng (tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười): Lũ gia tăng, là vùng giảm lũ cho toàn ĐBSCL

- Vùng giữa đồng bằng (giữa sông Tiền, sông Hậu và Cần Thơ là hạt nhân): Chịu tác động của thoát lũ nhanh từ vùng trên, là vùng đô thị hóa, công nghiệp hóa mạnh cần được bảo vệ

- Vùng ven biển (Bán đảo Cà Mau, dải ven biển Đông và biển Tây): Nước biển dâng, là vùng phát triển kinh tế biển

Lựa chọn mô hình phát triển vùng: Do tác động của BĐKH, các yếu tố tạo vùng có thể bị tác động ở mức độ khác nhau. Với những cực đoạn về lũ và hạn-mặn ngày càng thường xuyên, các biện pháp ứng phó khác nhau tại mỗi tiểu vùng sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố của mô hình phát triển vùng, vùng giáp biên giới chịu ảnh hưởng của lũ, vùng giáp biển đông chịu tác động của mặn, vùng trung tâm đồng bằng chịu ảnh hưởng của cả 2 yếu tố. Sự phân hóa về tác động của BĐKH làm mất đi sự đồng nhất vốn có của vùng. Trung tâm vùng hiện nay là Cần Thơ đứng trước nguy cơ vừa chịu tác động của lũ thoát ngày càng nhanh từ thượng lưu, vừa chịu ảnh hưởng NBD sẽ ngập ngày càng trầm trọng. Khi dòng chảy cạn kiệt, hệ thống giao thông thủy vốn là thế mạnh của trục trung tâm là yếu tố hạ tầng bị ảnh hưởng lớn nhất, từ đó ảnh hưởng đến trục trung tâm dọc sông Tiền và sông Hậu. Một mặt các khu vực giáp biên giới phía Tây chịu tác động của lũ, mặt khác các cực phát triển phía Đông giáp biển chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn và NBD. Vì vậy, trong nghiên cứu mô hình phát triển vùng cần quan tâm chi tiết đến tác động trên diện rộng của BĐKH và NBD. Theo đó, vùng phát triển theo mô hình bán tập trung, thay vì tập trung, chỉ phát triển tập trung ở những khu vực an toàn. Ngoài ra cần chuyển dần sang phát triển các hành lang theo trục ngang dọc quốc lộ thay vì các trục dọc sông hiện nay.

Cấu trúc không gian và phân vùng chức năng: Trong điều kiện BĐKH và NBD, cấu trúc không gian vùng cần tính đến sự suy giảm dòng chảy kiệt có thể ảnh hưởng lớn đến các hành lang đường thủy và mức độ khai thác các cảng đường sông. Do đó cấu trúc không gian cần dựa trên mạng lưới đường bộ, vốn đã phát triển rất mạnh trong thời gian gần đây. Sự hình thành các tuyến đê biển theo Quyết định số 667/QĐ-TTg kết hợp tuyến đê biển vùng ĐBSCL với đường giao thông ven biển có thể tạo ra một hành lang ven biển mới gắn với kinh tế biển.Ngoài ra các đô thị hạt nhân trong tiểu vùng trung tâm giữa sông Tiền - sông Hậu có thể bịảnh hưởng nghiêm trọng dưới tác động của lũ, đặc biệt là thành phố Cần Thơ, dưới tác động kép từ lũ thượng nguồn và triều cường-NBD từ phía biển. Do đó nên phát triển theo cấu trúc bán tập trung, phân tán và dành không gian cho nước nhiều hơn. Việc phân vùng chức năng cũng cần thực hiện lại theo chức năng phù hợp hơn, gồm 3 vùng: vùng giảm lũ (vùng trên), vùng phát triển (vùng giữa), vùng thích nghi (ven biển).

Hạ tầng kỹ thuật vùng: Hai vấn đề lớn nhất mà quy hoạch hạ tầng vùng phải giải quyết là ngập lụt (do lũ, NBD) và hạn hán-xâm nhập mặn.

Thích ứng với hạn hán và xâm nhập mặn:Giữ nước ngọt trong đồng bằng bởi các công trình ngăn sông quy mô vừa như thiết lập hệ thống cống đầu kênh, nạo sông, kênh và rạch, thiết lập hồ chứa nước… Ngoài ra, cần biến một số đầm lầy, ao hồ… thành hồ chứa nước ngọt, khuyến khích việc tích trữ nước mưa trong các thùng hoặc bể xây. Nghiên cứu áp dụng đập ngầm cửa sông.

Thích ứng với ngập lũ và triều:Thiết lập đê biển theo Quyết định số 667/QĐ-TTg, kết hợp tuyến đê biển vùng ĐBSCL với đường giao thông ven biển; chuyển nước giảm lũ bằng hướng thoát lũ ra biển Tây, sang sông Vàm Cỏ và qua sông Tiền, tận dụng khả năng trữ lũ, chậm lũ của sông, hồ, kênh…; sử dụng đê bao với quy mô nhỏ, đê mềm, cao trình và tuyến phù hợp; nâng cấp cơ sở hạ tầng dân cư, kết hợp chặt chẽ các công trình thủy lợi, giao thông, dân cư trong tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng chung. Tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ ĐBSCL.

Theo quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL tới 2020, tầm nhìn 2030 trong điều kiện BĐKH, đối với hệ thông thủy lợi có vai trò quan trọng nhất trong phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới cần đầu tư theo hướng đa mục tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông lâm thủy sản; bảo vệ dân cư; cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Nâng cấp, hoàn chỉnh hệ thống đê biển và đê sông thích ứng với biến đổi khí hậu. Từng bước xây dựng hệ thống công trình tại một số cửa sông lớn, trước hết là cóng Cái Lớn - Cái Bé. Nâng cấp và làm mới các công trình chậm lũ, thoát lũ, dẫn nước, tiêu nước, trữ nước trên sông và kênh rạch ở các vùng, đặc biệt là vùng ven biển. Đầu tư đồng bộ hệ thống thủy lợi nội đồng, trạm bơm điện vừa và nhỏ; hỗ trợ áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước; nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi. Giải pháp công trình cụ thể đối với các tiểu vùng như sau:

- Tiểu vùng Đồng Tháp mười: Đầu tư hệ thống bờ bao hoàn chỉnh và hệ thống đê ngăn lũ, triều cường dọc sông; nạo vét, mở rộng hệ thống kênh ngang để tăng cấp nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ; chủ động trữ nước, kiểm soát mặn trên sông Vàm Cỏ bằng công trình; đầu tư công trình chuyển nước ngọt bổ sung cho dự án Bảo Định và dự án Gò Công.

- Tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên: Hoàn thiện hệ thống công trình kiểm soát lũ biên giới, ngăn mặn ven biển Tây, hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản Tứ giác Long xuyên và Tây đường tránh thành phố Long Xuyên; xây dựng cụm công trình trong vùng, gồm: nâng cấp, sửa chữa một số hồ chứa, xây dựng một số đê bao, Cống đầu kênh, cuối kênh, nạo vét, mở rộng một số kênh trục...

- Tiểu vùng giữa sông Tiền - sông Hậu: Hoàn thiện hệ thống công trình kiểm soát lũ; nạo vét, mở rộng các kênh nối sông Tiền và sông Hậu.

- Tiểu vùng tây sông Hậu: Nạo vét, mở rộng các kênh trục nối từ sông Hậu vào nội đồng; xây dựng cống Cái Lớn - Cái Bé.

- Tiểu vùng bán đảo Cà Mau: Hoàn thiện hệ thống công trình đê biển, đê cửa sông, công trình phân ranh mặn ngọt, nâng cấp hệ thống cống dọc Quốc lộ I; nạo vét, mở mới hệ thống kênh rạch trong vùng; nghiên cứu giải pháp bổ sung nước ngọt cho các vùng nuôi tôm; hoàn thiện quy trình điều tiết nước và rửa mặn.

- Tiểu vùng cửa sông ven biển Đông: Nâng cấp đê dọc sông Tiền, sông Hậu; đầu tư hoàn chỉnh hệ thống công trình Ba Lai; hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê sông.

Giải pháp về QHXDNT

Mô hình phát triển: Các ý tưởng quy hoạch nông thôn trong vùng ĐBSCL cần xuất phát từ yếu tố nước.

  • Đối với các khu dân cưu vùng thượng lưu ĐBSCL (Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười), mô hình phát triển theo nguyên tắc thích ứng với lũ. Hạn chế phát triển tập trung, dành không gian chứa nước và chuyển nước kết nối với hồ chứa.
  • Đối với trung tâm ĐBSCL, là khu vực thường xuyên chịu tác động kép của lũ và NBD, triều cường. Do đó một mặt dành không gian giữ nước tạm thời, mặt khác cần kiểm soát ngập lụt phát triển tập trung với đê bao, cống kiểm soát lũ, triều.
  • Đối với vùng ven biển, chịu tác động của NBD, triều cường, xâm nhập mặn. Phát triển phi tập trung, gắn với không sinh thái dựa trên khung thiên nhiên (rừng ngập mặn, sông nước…).

           Hình thái và cấu trúc không gian:Để ứng phó rủi ro, các xã, điểm dân cư nông thôn ĐBSCL nên có cấu trúc phân tán, đảm bảo thực hiện được các chiến lược linh hoạt và giảm thiểu rủi ro. Cấu trúc cơ bản định hình dựa trên khung thiên nhiên đặc trưng của vùng là sông nước, kênh rạch, các vùng trồng cây ăn quả, nông lâm ngư nghiệp… Các xã, khu dân cư phát triển theo chuỗi dọc sông cần xen kẽ cảnh quan, hạ tầng cơ sở.

Phân khu chức năng và chiến lược sử dụng đất: Việc phân khu chức năng cho các xã và điểm dân cư nông thôn phải giải quyết tốt mạng lưới không gian mở tự nhiên như cây xanh, mặt nước, nông nghiệp. Các không gian này là các giải pháp phi công trình để ứng phó với tác động của BĐKH. Mạng lưới nước giải quyết các vấn đề về thoát nước và kết hợp với việc sử dụng nước cho hoạt động giải trí và tạo vẻ đẹp cảnh quan. Các yếu tố trong hệ thống dẫn nước là các kênh nước mưa và các dải đất thấp sinh thái, “các khu linh hoạt” là không gian bên sông, mạng lưới làm sạch nước thải phân cấp và chuỗi lưu vực trữ nước bề mặt.

Không gian kiến trúc, cảnh quan: Có sự đan xen giữa xây dựng và không gian cho nước. Các mô hình ở thích hợp với vùng sông nước, thấp tầng, có thể sử dụng các mô hình nhà nổi, nhà trên sông…

Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật: Hạ tầng kỹ thuật cần được quy hoạch theo hướng thân thiện với thiên nhiên môi trường, kết hợp các giải pháp công trình và phi công trình.

Kiến tạo địa hình là công cụ thiết kế chính để định hướng duy trì sự cân bằng giữa đào và đắp. Nền xây dựng cần được cân bằng đào đắp trong cùng khu vực theo nguyên tắc việc đắp cao một khu vực để thích ứng với mực nước thì cần phải tạo một không gian chứa nước tương ứng tại khu vực khác.

Sử dụng hồ điều hòa thích ứng với lũ, triều, mưa và có thể cấp nước, tạo cảnh quan. Đối với các khu vực ven biển, khi nguồn nước ngọt hạn chế, trong tương lai hồ điều hòa sẽ có thêm nhiệm vụ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.Đối với các thượng lưu, hồ điều hòa cần có qui mô lớn hơn làm nhiệm vụ trữ nước cho sản xuất trong mùa khô, mùa mưa hồ hạn chế nước tràn vào các khu dân cư.

          Ngoài ra, cần xem xét lồng ghép các tiêu chí về ứng phó với BĐKH trong việc lập và thực hiện các quy hoạch nông thôn mới để có được các mô hình ở nông thôn có năng lực thích ứng tốt. Quy mô của các đơn vị ở có thể tương đương với 1 ấp/xóm (20 hộ gia đình) với chu trình sinh thái khép kín giống như mô hình vườn ao chuồng (VAC) đã được áp dụng nhưng với các yêu cầu thêm như:

          Cấp nước sinh hoạt: Đảm bảo đủ nước cho sinh hoạt và chất lượng nước cấp cho ăn uống thông qua đa dạng hóa nguồn cấp nước như sử dụng nước mưa, xử lý nước mặn, lợ thành nước ngọt, tiết kiệm và sử dụng nước hiệu quả cùng với kiểm soát ô nhiễm nước.

          Giao thông: Đảm bảo kết nối với giao thông tới bên ngoài và trong khu dân cư. Một số tuyến giao thông quan trọng không bị ngập khi có lũ lụt, triều cường.

          Sử dụng năng lượng: Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm; tận dụng tự nhiên như thông gió và ánh sáng, cách nhiệt, xanh hóa công trình; sử dụng thiết bị hiệu quả để tiết kiệm sử dụng năng lượng; phát triển sử dụng năng lượng tái tạo như mặt trời, gió cho từng công trình.

          Không gian xanh mặt nước: Các công trình phải có cây xanh và tích hợp thu gom, thẩm thấu để tái sử dụng nước mưa. Duy trì và phát huy giá trị sinh thái của các không gian xanh tự nhiên như nông nghiệp, cây ăn trái, ao đầm, đất ngập nước…

          Xử lý nước thải: Đảm bảo có hệ thống xử lý nước thải theo hướng phân tán và giảm thiểu lượng nước thải phát sinh cần xử lý.

          Xử lý chất thải rắn: Phân loại và thu gom CTR sinh hoạt. Giảm thiểu phát sinh CTR sinh hoạt tại nguồn. Áp dụng mô hình tận dụng chất thải hữu cơ ủ phân sinh học và biogas quy mô nhỏ hoặc thức ăn cho chăn nuôi hộ gia đình.

          Xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro thiên tai và các khu đất có cao trình an toàn cho phục vụ sơ tán hoặc các công trình công cộng quan trọng như bệnh viện, trạm y tế, trường học…

Kết luận

Tóm lại, trước những tác động ngày một cực đoan, khó lường của diễn biến thiên tai và BĐKH tại ĐBSCL, việc soát xem xét lại các QHXD trong vùng đặt ra hết sức cấp bách, đảm bảo các giải pháp được thực hiện là hợp lý và “không hối tiếc”. Việc thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL mà trọng tâm là lũ lụt và NBD cần được kết hợp giữa các giải pháp công trình và phi công trình, phù hợp với đặc trưng tác động của từng tiểu vùng. Công tác ứng phó cũng cần được thực hiện ở tất cả các cấp độ, từ quản lý tổng hợp trên phạm vi lưu vực đến cấp vùng tới khu dân cư, từ chiến lược sử dụng không gian lãnh thổ đến sử dụng đất đai, thiết kế hạ tầng kỹ thuật hợp lý.

Tài liệu tham khảo

  1. Đô thị nước nhằm ứng phó với BĐKH. VIAP, 2013.
  2. Kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam. Bộ TN&MT, 2016.
  3. Kế hoạch châu thổ sông Cửu Long (dự thảo). Hợp tác Việt Nam-Hà Lan, 2013.
  4. Quy hoạch xây dựng Vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050. VIAP, 2010.
  5. Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD. Viện QHTL miền Nam, 2010.
  6. Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trong điều kiện BĐKH.
  7. Tác động của BĐKH tới hạ tầngđô thị ĐBSCL-Hiện trạng và giải pháp. Lưu Đức Cường&Nguyễn Việt Dũng, 2013.
  8. Quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH và nước biển dâng. Lưu Đức Cường&Nguyễn Huy Dũng, 2016
  9. Nhiều bất cập trong xây dựng tuyến dân cư vượt lũ. Báo Quân đội Nhân dân, 2017.

[1]Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD. Viện QHTL miền Nam, 2010.

[2]Quy hoạch Xây dựng vùng ĐBSCL

[3]Kế hoạch châu thổ sông Cửu Long (dự thảo). Hợp tác Việt Nam-Hà Lan, 2013.

[4] Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD. Viện QHTL miền Nam, 2010

(Nguồn:PGS. TS. KTS. Lưu Đức Cường và ThS. Nguyễn Việt Dũng - Tạp chí Quy hoạch (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website