Tiêu chí đô thị bền vững trong quy hoạch xây dựng

Phát triển bền vững Phát triển bền vững (Sustainable Development) là một khái niệm lý luận đang từng bước gây ảnh hưởng và làm thay đổi chính sách phát triển kinh tế toàn cầu. Phát triển bền vững (PTBV) có nghĩa là “Một sự phát triển vừa có thể thích hợp với thời đại ngày nay, vừa không ảnh hưởng tới việc thỏa mãn của con cháu đời sau”. Đó là định nghĩa do Ủy ban Brundtland nêu ra năm 1987.

Hội nghị Thượng đỉnh vể trái đất tại Rio de Janeiro năm 1992 với chủ đề “Môi trường và trái đất” đã chấp nhận Chương trình Nghị sự 21 “Agenda 21”, với một kế hoạch chi tiết nhằm xem xét lại sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ về công bằng xã hội và bảo vệ môi trường và nghiêm túc nghiên cứu vấn đề “phát triển bền vững”. 

Tuy nhiên còn một báo cáo khác của Văn phòng Quy hoạch Môi trường Liên hiệp quốc giải thích khái niệm này là “Sự phát triển cải thiện chất lượng sinh hoạt của loài người trong phạm vi chịu đựng được của hệ thống sinh thái”.

 Khái niệm này có hàm nghĩa rộng, bởi vậy nhiều chuyên gia cho rằng cách dịch thành bền vững là không chính xác, vì bền vững thể hiện quá nhiều chiều rộng của thời gian, còn mối quan hệ về lượng và chất trong phát triển, cũng như giữa phát triển và môi trường, lại không biểu đạt được đầy đủ ý nghĩa “có thể chịu đựng được”.

Cho tới nay, khái niệm phát triển bền vững đã xuất hiện ngày càng nhiều, song theo nhà khoa học người Mỹ B.A Wilcox: “Cũng như nhận thức về nhiều vấn đề chính trị, tôn giáo quan trọng, nhận thức của mỗi người về phát triển bền vững đang tồn tại những bất đồng khá lớn”. 

Thực vậy phát triển bền vững hoàn không phải là một khái niệm nêu ra khi đơn thuần đứng dưới góc độ môi trường, phát triển kinh tế mới là chủ đề nội dung của nó, hơn nữa phát triển kinh tế mà nó chỉ ra có ý nghĩa toàn diện về không gian và thời gian, xã hội và tự nhiên, đạo đức và luân lý... khác biệt về căn bản nếu chỉ theo con số thống kê phiến diện.

Xét về ý nghĩa nói trên của sinh thái học theo nghĩa rộng, quan điểm phát triển mà phát triển có tính bền vững đã thể hiện mang tính liên quan một cách hệ thống toàn diện.
Xét việc đề ra chính sách phát triển kinh tế, sự phát triển bền vững có 3 mặt yêu cầu chủ yếu sau đây: 
(i)Yêu cầu quá trình quyết sách phải đánh giá đúng chính xác nguồn tài nguyên môi trường có thể sử dụng, thông qua sự đánh giá tác động của môi trường, nắm vững sức chịu đựng của môi trường đối với phát triển.
(ii) Đòi hỏi chiều rộng thời gian của chính sách phải có tính dài hạn khiến cho quyết sách giàu tính chiến lược hơn nhằm mưu cầu lợi ích lâu dài hơn. (iii) Đòi hỏi chính sách thể hiện được tính bình đẳng về quyền lợi trong cùng một thế hệ, giữa các thế hệ với nhau về mặt sử dụng nguồn vốn và của cải cần thiết cho phát triển. 

20 năm sau Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janero năm 1992 với Chương trình nghị sự 21, Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Phát triển bền vững (Rio+20 ) cũng họp tại Rio de Janeiro vào cuối tháng 6/2012 với chủ đề “Tương lai chúng ta muốn” (The Future We Want ) nhằm đưa ra những hành động mạnh mẽ theo hướng “nền kinh tế xanh” với các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGS).

Để thúc đẩy phát triển bền vững sau năm 2015, năm kết thúc tiến trình thực hiện MDGS, thì phát triển bền vững vẫn được xem là con đường duy nhất giúp nhân loại giải quyết những thách thức về kinh tế, xã hội và môi trường mà hàng tỷ người đang phải đối mặt. Do vậy “Chương trình nghị sự (CTNS) 2030 vì sự phát triển bền vững” đã được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh LHQ từ ngày 25-27/9/2015 tại New York đã đưa ra một khuôn khổ toàn cầu mới trên cơ sở hoàn thiện MDGs và Chương trình nghị sự 21 về PTBV. 

CTNS 2030 xác định 17 mục tiêu chung bao gồm: (1) Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi (2) Chấm dứt tình trạng thiếu đói, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững (3) Đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và thúc đẩy phúc lợi cho tất cả mọi lứa tuổi (4) Đảm bảo giáo dục có chất lượng toàn diện, công bằng và thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời (5) Đạt được bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái (6) Đảm bảo tính sẵn có, quản lý bền vững nước và vệ sinh cho mọi người (7) Đảm bảo mọi người được tiếp cận nguồn năng lượng có giá cả trong khả năng chi trả, đáng tin cậy bền vững và hiện đại (8) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, việc làm, năng xuất, đầy đủ cho mọi người (9) Xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố thúc đẩy công nghiệp hóa bền vững, toàn diện và tăng cường phát minh, sáng kiến (10) Giảm bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia (11) Xây dựng các đô thị và cộng đồng dân cư toàn diện, an toàn, có khả năng chống chịu và bền vững (12) Đảm bảo mô hình sản xuất và tiêu tụ bền vững (13) Hành động khẩn cấp nhằm ứng phó với BĐKH và những tác động của nó (14) Bảo tồn và sử dụng một cách bền vững các nguồn lực biển, đại dương để PTBV (15) Bảo vệ, khôi phục và tăng cường sử dụng bền vững sinh thái trái đất, quản lý rừng bền vững, đấu tranh chống lại việc phá rừng, ngăn chặn và phục hồi sự suy giảm và quá trình suy thoái đa dạng sinh học (16) Khuyến khích các hiệp hội vì hòa bình và tính bao trùm xã hội thực hiện PTBV tạo điều kiện tiếp cận với công lý cho tất cả mọi người và xây dựng thể chế hiệu quả, có tính giải trình và bao phủ toàn diện (17) Tăng cường phương thức thực hiện và thúc đẩy đối tác toàn cầu vì sự PTBV.

Do vậy nếu căn cứ vào mối liên hệ gữa các tiêu chí nêu trên thì phát triển bền vững phải là một quá trình dàn xếp, thỏa hiệp giữa các hệ thống kinh tế, tự nhiên và xã hội, tức phát triển bền vững phải bảo đảm 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường hài hòa với nhau ( H.Barton, International Institute for environment and development - IIED)
PTBV là kết quả hợp nhất giữa kinh tế - xã hội và môi trường để tìm ra vùng chung/tiếng nói chung/mục tiêu quy hoạch chung đảm bảo sống tốt. công bằng xã hội và tính bền vững. 

Phát triển đô thị bền vững
Trên cơ sở nguyên lý PTBV, với đặc thù của đô thị khái niệm “phát triển đô thị bền vững” (PTĐTBV) được dựa trên nguyên tắc hợp nhất: (i) Kinh tế đô thị (ii) Xã hội đô thị (iii) Môi trường sinh thái đô thị (iv) Cơ sở hạ tầng đô thị (v) Không gian đô thị (chứa đựng yêu cầu không gian của các thành phần trên trừ thành phần mềm) (vi) Quản lý đô thị (thành phần mềm), để tìm ra vùng chung/tiếng nói chung/mục tiêu quy hoạch chung, đảm bảo yêu cầu: công bằng, sống tốt và tính bền vững và trở thành “đô thị bền vững”. 

Dựa trên mối quan hệ hữu cơ mật thiết giữa các thành phần nêu trên trong vùng chung để xác định các tiêu chí PTĐTBV có liên quan. Như vậy có thể thấy mối quan hệ giữa các tiêu chí PTĐTBV là một thể thống nhất chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Thiếu một trong các nhóm tiêu chí cũng như những tiêu chí trong các nhóm tiêu chí đều có thể dẫn tới đô thị sẽ không phát triển lành mạnh và càng không thể phát triển đô thị bền vững.

Tiêu chí đô thị bền vững trong quy hoạch xây dựng 
Hiện nay thế giới chúng ta đang trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng, trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thị trường thế giới, trong thời đại khoa học và công nghệ thông tin. Quá trình đô thị nhanh, vai trò của các thành phố đã thay đổi trong thế kỷ 21. Tính “cạnh tranh của các đô thị”sẽ nhanh chóng có chỗ đứng trong tính cạnh tranh quốc gia. “Phần cứng” là hạ tầng kỹ thuật, không gian vật chất để phục vụ kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường và “phần mềm” là ý thức, kiến thức, văn hóa, quản lý nhà nước và quyền lực của nhân dân cần được hài hòa để “sống tốt, công bằng xã hội và tính bền vững”. 
Trong bối cảnh đó Ngân hàng thế giới đã đề ra 4 “tiêu chí” cho một đô thị phát triển bền vững là: (i) Sống tốt (ii) Cạnh tranh (iii) Quản lý tốt. 
(iv) Ngân hàng , tài chính lành mạnh.

Sống tốt (Liveability): Theo Mike Douglass các thành tố của thành phố sống tốt bao gồm: (1) Sự phát triển của các cá nhân: (i) sinh kế (ii) sức khỏe (iii) giáo dục (iv) an ninh, an toàn (2) Môi trường sống tốt: không khí, đất, cấp nước, thu gom chất thải rắn, không có nhà ổ chuột (3) Đời sống văn hóa-xã hội và cộng đồng: (i) cộng đồng hành động và xã hội dân sự (ii) quản trị có sự tham gia của dân cư (iii) tập quán và tiện nghi văn hóa (iv) cộng đồng và không gian công cộng.

Cạnh tranh (Competitiveness): Theo Ecinomist Intelligence Unit (EIU), thành phố cạnh tranh có 8 trụ cột: (1) Sức mạnh kinh tế (2)Tính hấp dẫn toàn cầu (3) Hạ tầng đô thị (4) Môi trường tự nhiên và thảm họa (5) Tài chính vững vàng (6) Nguồn lực con người (7) Quản lý công hiệu quả (8) Bản sắc văn hóa đô thị.

Quản lý nhà nước tốt (Good Governance): Theo UNDP quản lý nhà nước tốt có các đặc trưng: (1) Sự tham gia của cộng đồng (2) Các quy định của luật (3) Minh bặch (4) Trách nhiệm (5) Hướng tới đối thoại (6) Công bằng xã hội (7) Hiệu lực, hiệu quả (3) Chịu trách nhiệm (9) Tầm nhình chiến lược.

Tài chính - ngân hàng lành mạnh (Bankability): (1) Tài chính cân bằng: thành phố có tín dụng tốt (2) Tăng nguồn thu ngân sách. (3) Đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng (4) Hạn chế tối đa nợ xấu.

Các tiêu chí sống tốt và cạnh tranh trong sự hài hòa đều có nhu cầu không gian trong quy hoạch đô thị/quy hoạch xây dựng.
Môt đô thị bền vững phải là một phần của một khu vực bền vững rộng lớn. Vì vậy tiêu chí để xây dựng một đô thị bền vững trước tiên phải thỏa mãn những yêu cầu mà sự phát triển bền vững đòi hỏi, sau đó phải là tiêu chí phản ảnh các khả năng đóng góp vào một khung cảnh phát triển bền vững chung khi tính đến các chi phí tài nguyên, môi trường sinh thái trong các hoạt động của mình.

Dự án đô thị bền vững ở châu Âu do Viện Môi trường quốc tế điều phối với sự tham gia của 12 thành phố: Alborg (Đan Mặch), Amsterdam, Breda, DenHaag (Hà Lan), Angers (Pháp), Brussels (Bỉ), Freiburg, Hanover và Leipzig (Đúc), Leicester (Anh), Temi (Italia), Valencia (Tây Ban Nha). 
Dự án được sự tài trợ của Ủy ban Châu Âu với mục đích là phát triển hệ thống các chỉ tiêu có thể dùng chung cho các thành phố tòan châu Âu. 
Kết quả 5 năm thực hiện và đánh giá (1985-1990), đã xây dựng được “Tiêu chí của một đô thị bền vững” có 10 chỉ tiêu cốt lõi bao hàm các nội dung bền vững sau đây cho hệ thống đô thị châu Âu:

1-Môi trường lành mạnh được đánh giá bằng số ngày trong năm có chất lượng không khí không vượt quá tiêu chuẩn địa phương.
2- Không gian xanh được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số người đến vườn cây xanh ở một khoảng cách nhất định. 
3- Sử dụng hiệu quả tài nguyên được đánh giá bằng toàn bộ năng lượng, nước tiêu thụ, phế thải được loại bỏ (không kể số phế thải đã được tái chế hay sử dụng lại) tính theo đầu người trong một năm.Tỷ lệ giữa các nguồn năng lượng có thể tái sinh và không tái sinh.
4- Chất lượng môi trường tin cậy, được tính bằng không gian mở cho diện tích được dùng ô tô.
5- Khả năng đi lại, được tính bằng km đi bằng phương tiện giao thông (ô tô, xe đạp, vận tải công cộng) tính bằng đầu người trong một năm.
6- Nền kinh tế xanh, được đánh gía bằng phần trăm số công ty đã kết hợp các phương pháp kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) hoặc các phương pháp tương tự.
7- Độ trường tồn, được đánh giá bằng các hoạt động văn hóa và xã hội (danh mục này vẫn đang được sử dụng).
8- Sự tham gia của cộng đồng, được đánh giá qua các hoạt động nhóm hoặc tổ tình nguyện tính trên 10.000 dân và ước chừng số thành viên.
9- Công bằng xã hội, được phản ánh qua tỷ lệ phần trăm số người sống dưới mức nghèo khổ và tỷ lệ phần trăm số người không tiếp cận được với dịch vụ cơ bản của đô thị như: nhà ở, việc làm, ổn đụnh của thu nhập, hưởng chăm sóc y tế, giáo dục chính quy.
10- Phúc lợi, được đánh giá thông qua việc khảo sát sự thỏa mãn của các công dân về chất lượng đời sống (nội dung khảo sát được địa phương quyết định).

Ở nước ta, trong chuyên đề nghiên cứu về “Phân tích chính sách đô thị hóa trong quá trình đô thị hóa tác động đến phát triển bền vững ở Việt Nam”, thuộc chương trình “Thiên niên kỷ 21” do UNDP tài trợ, đã đề xuất “10 nhóm tiêu chí bền vững trong quá trình đô thị hóa” bao gồm các “nhóm tiêu chí” và các “tiêu chí đô thị bền vững” như sau: 

1-Phân bố và “quy hoạch đô thị” phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh thái tự nhiên, bảo vệ môi trường; Có 4 tiêu chí: (i) 6 vùng địa lý (ii) Các thông số tự nhiên tại 6 vùng địa lý (iii) Khai thác tốt các vùng sinh thái tự nhiên (4) Đảm bảo tốt môi trường đất, nước, sông, hồ…
2- Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo nhiều việc làm, đô thị ổn định bền vững cho mọi thành phần kinh tế và cho mọi người dân đô thị. Có 5 tiêu chí và có“nhu cầu về không gian” trong quy hoạch xây dựng: (i) Tăng trưởng các nghành công nghiệp (ii) Tăng trưởng thương mại và dịch vụ (iii) Tăng thu nhập thuế cho thành phố (iv) Có nền kinh tế mang tính cạnh tranh phát triển giữa các đô thị. Đây là tiêu chí thành phố phát triển bền vững (TP PTBV) đầu ra do Ngân hàng Thế giới (W.B) đề xuất (v) Tạo nhiều việc làm cho khu vực dân nghèo thu nhập thấp và khu vực dân cư không chính thức khác.
3- Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh. Có 6 tiêu chí : (i) Đại học (ii) Cao đẳng (iii) Trung học và tương đương (iv) Tiểu học (v) Thất học ( thấp nhất có thể)
4- Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững. Có 3 tiêu chí:
(i) Có đủ số cán bộ có trình độ trên đại học và có kỹ năng quản lý đô thị theo hướng bền vững (ii) Có đủ số cán bộ có trình độ đại học và có kỹ năng quản lý đô thị (iii) Có đủ số cán bộ có kỹ năng quản lý phát triển đô thị có trình độ trung học. Số cán bộ theo 3 tiêu chí trên với tỷ lệ 2/5/3. 
5- Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị hàng ngày càng cao. Có 6 tiêu chí: (i) Chăm sóc sức khỏe đầy đủ (ii) Giáo dục đào tạo tốt (iii) Vui chơi giải trí thỏa mãn (iv) Tạo được không khí hòa nhập cộng đồng đô thị (v) Thỏa mãn dịch vụ mua sắm (vi) Thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt khác.
6 - Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững. Có 6 tiêu chí và có nhu cầu về không gian trong quy hoạch xây dựng: (i) Nhà ở đô thị đủ, tiện nghi (ii) Cây xanh đô thị thỏa mãn (iii) Có đủ công trình giáo dục đào tạo (iv) Có đủ các công trình chăm sóc sức khỏe (v) Có đủ các công trình vui chơi giải trí (vi) Có đủ các cơ sở sinh hoạt văn hóa, mở mang trí tuệ.
7 - Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững.
Có 6 tiêu chí và có nhu cầu về không gian trong quy hoạch xây dựng : 
(1)Giao thông đô thị và đối ngoại, đáp ứng đầy đủ và an toàn và hiện đại 
(ii) Cấp nước đô thị với 2 hệ thống riêng (iii) Thoát nước đô thị với 2 hệ thống riêng (iv) Chất thải đô thị được xử lý riêng 100% (v) Sử dụng năng lượng đô thị theo phương pháp tự nhiên ngày càng tăng (vi) Thông tin truyền thông đô thị thỏa mãn trình độ cao. (vii) Tiếp cận kịp thời các yêu cầu kỹ thuật hạ tầng và công nghệ đô thị tiên tiến.
8- Lồng ghép quy hoạch môi trường với “quy hoạch đô thị”. Có 5 tiêu chí: 
(1)Tổ chức không gian xanh vùng và đô thị hợp lý (ii) Khai thác mặt nước tối đa có thể (iii) Gìn giữ tốt môi trường xã hội (iv) Đề xuất các biện pháp bảo tồn môi trường di sản đô thị hiêu quả nhất (v)Thực hiện các quy hoạch môi trường chuyên nghành trong đô thị và vùng khi cần thiết. Tuy nhiên cần bổ sung thêm tiêu chí thứ (vi) Thích ứng vả giảm nhẹ biến đổi khí hậu (BĐKH).
9- Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị. Có 5 tiêu chí: (i) Đóng góp ý kiến trong công tác quy hoạch đô thị (ii) Đóng góp ý kiến đầu tư phát triển đô thị (iii) Đóng góp ý kiến trong công tác quản lý đô thị (iv) Đóng góp ý kiến trong công tác điều hành của bộ máy quản lý đô thị có liên quan (v) Vai trò phụ nữ trong công tác đóng góp ý kiến về quy hoạch , đầu tư và quản lý đô thị.
10- Hợp tác, phối hợp điều hành vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và cùng phát triển. Có 5 tiêu chí: (i) Hình thành ranh giới và không gian vùng hợp lý (ii) Hình thành một cơ chế điều hành bình đẳng, hiệu quả (iii) Đảm bảo lợi ích cho các đô thị trong vùng (iv) Hợp tác cùng nhau để bảo vệ môi trường và PTBV (v) Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái tự nhiên và sinh thái đô thị.

Các nhóm tiêu chí có liên quan đến Quản lý nhà nước tốt tượng tự như tiêu chí đầu vào TP PTBV của W.B.
Theo quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/10/1998 của Thủ tướng Chính phủ thì cần bổ sung một số tiêu chí chủ yếu như:
1-Dân số và tỷ lệ đô thị hóa, phân bố mật độ dân số dân cư theo “hình thái đô thị ” hợp lý tùy vào “quy mô đô thị”.
2-Tổ chức không gian lãnh thổ: Trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, những đặc điểm kinh tế, xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển, tổ chức các đô thị được phân bố hợp lý giữa các vùng lãnh thổ theo hệ thống tầng bậc các “trung tâm đô thị”: (i) Trung tâm đô thị quốc gia (ii) Trung tâm đô thị cấp vùng (iii) Trung tâm đô thị cấp tỉnh (iv) Các trung tâm cấp đô thị thược tỉnh. 
3-Tạo được môi trưởng sống theo hướng bền vững: Môi trường sống, làm việc, sản xuất và nghỉ ngơi giải trí phải đảm bảo tiện nghi, an toàn và bền vững, thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của người dân, bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, tương tự như tiêu chí “sống tốt”, tiêu chí đầu ra của TP PTBV do WB đề xuất và có nhu cầu không gian trong quy hoạch xây dựng.

Tài liệu tham khảo
1.    Brundtland Commission, 1987
2.    Earth Summit_Rio de Janero - UN,1992
3.    Promoting Human settlement Development_ UN,1992
4.    Bàn về sự phát triển bền vững của đô thị_ Trương Tế,1995
5.    Dự án quốc gia “Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý đô thị TP.HCM” VIE/95/051_ UNDP& TP.HCM,1998
6.    Some Recommendations on Urban Planning and Management Methodologies in Viet Nam_ Nguyen Dang Son, Seventh International Cogress of APSA: Creating Better Cities in the 21th Century, Hanoi, September 12-14,2003
7.    Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) _ số 153/2004/QĐ- TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004
8.    Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị_ Nguyễn Đăng Sơn, NXB Xây Dựng 2005 và Tập 2, 2006
9.    Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM_Viện QHXD TP.HCM & Nikken Seikkei, 2007.
10.    Phát triển bền vững vùng ven đô TP.HCM _ Nguyễn Đăng Sơn, TC Người Xây Dựng tháng 7&8 năm 2008.
11.    Thành phố và khủng hoảng sinh thái _ Nguyễn Đăng Sơn, 2009
12.    Phát triển hệ thống đô thị quốc gia bền vững_Lê Hồng Kế, 2010
13.    Xây dựng và phát triển bền vững các thành phố cực lớn của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi_ Trần Trọng Hanh, 2010
14.    Những chiến lược của các vùng đô thị lớn – Thách thức, quyền lực và quy hoạch )_ Gilles Antier,2010
15.    Kết hợp cây xanh với mặt nước_Nguyễn Đăng Sơn, TC Người Đô Thị số 110, năm 2011
16.    Thành phố đa trung tâm_ Nguyễn Đăng Sơn, 2011
17.    Hướng tới thành phố toàn cầu phát triển bền vững_ Nguyễn Đăng Sơn, TC Người Xây Dựng tháng 9/2011
18.    Kinh nghiệm quốc tế trong đổi mới phương pháp quy hoạch đô thị đương đại_Ngô Trung Hải & Lưu Đức Cường, 2011
19.    Hiện đại và bản sắc_ Nguyễn Đăng Sơn, TC Saigon Đầu Tư & Xây Dựng số 1 năm 2012
20.    Kinh nghiệm Á châu cho đô thị Việt Nam_ Nguyễn Đăng Sơn, TC Kiến trúc Việt Nam số tháng 3/2012
21.    Đánh giá đô thị hóa ở Viêt Nam_Ngân hàng Thế giới (WB),2011
22.    Conference on Sustainabale Development - RIO + 20_ UN, 2012
23.    Quy hoạch xây dựng TP HCM trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng_Lê Hồng Kế, TC Saigon Đầu tư & Xây Dựng số 6/2012
24.    Tiêu chí một đô thị bền vững, Internet 2016
25.    CDS Guideline _Tim Campell & Dinesh Mehta, WB & Habitat, 2002
 

(Nguồn:Nguyễn Đăng Sơn - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 81))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website