Khoảng Vênh trong đô thị - Thách thức đổi mới quy hoạch xây dựng

Hệ thống đô thị Việt Nam cho thấy tồn tại “khoảng cách” giữa quy hoạch với thực tế triển khai quy hoạch. Từ góc nhìn đa chiều, chúng ta nhận thấy một số “khoảng vênh” trong đô thị đã tạo nên các hình thái đô thị không hoàn chỉnh và thiếu bền vững. Mục tiêu bài viết sẽ tập trung vào phân tích khoảng cách - độ vênh tiềm ẩn lâu nay giữa: mô hình ngoại nhập và năng lực nội tại, thích nghi mềm trước luật định cứng, ý chí quy hoạch và quyết tâm đầu tư. Từ đó, làm rõ hơn các vấn đề trong đô thị và thách thức đối với công tác đổi mới quy hoạch đô thị (QHĐT) tại Việt Nam hướng tới phát triển bền vững.

Vietnam cities’ system depicts existing ‘distances’ between urban planning with its implementation in reality. From a multidimentional view, several ‘city’s gaps’realized are shaping city typologies uncompletedly and unsustainably. The aim of paper is to analyze hidden gaps existed between imported city-forms and internal capability of local city, soft adaptability to hard regulatory framework, planning-driven will and investment determination respectively. According to the findings, it clarifies cities’ issues clearer and challenges in necessarily innovating Vietnam’surban planningsystem towards sustainable development.

Bối cảnh chung
Thời gian qua, với chính sách đổi mới, hội nhập, hệ thống đô thị Việt Nam đã phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng. Dự kiến đến hết 2016, cả nước có gần 800 đô thị [5] với tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 36,8%. Bên cạnh mặt tích cực, các đô thị còn đối mặt với tình trạng thiếu hạ tầng kỹ thuật, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống đô thị. Song song, bộ mặt kiến trúc đô thị phát triển lộn xộn làm thay đổi bản sắc văn hoá - xã hội và dần đánh mất đặc trưng vùng - miền vốn có. Về quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia, xây dựng vùng tỉnh, chung đô thị, đến phân khu và chi tiết, cho thấy: còn một số “khoảng cách lớn”[3] giữa quy hoạch với thực tế triển khai dẫn đến hiện tượng quy hoạch kém hiệu quả. Chính vì thế, yêu cầu về đổi mới QHĐT tại Việt Nam được đặt ra để có hướng chuyển biến, ứng phó với quá trình toàn cầu hóa và đô thị hóa. Xét về tổng thể, công tác lâp QHĐT là bước cụ thể hóa những mong muốn và định hướng của các cấp - ngành cho sự phát triển đô thị (hay) giải quyết các vấn đề đô thị quá khứ, hiện tại và tương lai. Để hiểu hơn về QHĐT, tham gia vào hoạt động của đô thị dưới các góc nhìn quản lý đô thị, tư vấn (quy hoạch, kiến trúc, xây dựng…), đầu tư xây dựng cho phép chúng ta nhận ra một số “khoảng vênh” tiềm ẩn lâu nay. Thực tế cho thấy, có nhiều khoảng vênh phát sinh vô hình ngay từ khi manh nha quá trình phát triển đô thị; đã tạo nên hình ảnh đô thị khác với mong đợi của xã hội. Trong khuôn khổ có hạn, bài viết sẽ tập trung phân tích sâu hơn về khoảng cách - độ vênh giữa (1) mô hình ngoại nhập và năng lực nội tại; (2) thích nghi mềmtrước khung luật định cứng; (3) ý chí quy hoạch và quyết tâm đầu tư.
Cụ thể như sau:

Mô hình ngoại nhập và năng lực nội tại

Ban đầu, đô thị được hình thành từ mối gắn kết làng xóm và sắp xếp tạo nên các trung tâm - nơi gặp gỡ văn hoá - tín ngưỡng, duy trì và phát triển xã hội. Kế đến là sự hình thành, tồn tại các đô thị cổ và lịch sử, đô thị trung cổ, đô thị tân cổ điển. Sau đó, các đô thị công nghiệp, rồi thành phố tương phản. Trong thời kỳ dân số thế giới bùng nổ, Le Corbusier đã đưa ra mô hình đô thị không tưởng. Từ đó dự báo cho xu hướng đô thị hiện đại trong và sau Thế chiến thứ I, rồi đến thành phố vành đai xanh. Thế kỷ 19, hàng loạt quốc gia chạy đua xây dựng kiểu đô thị thực dụng và nén. Thế kỷ sau đó là đô thị sinh thái và bền vững. Trong một thập kỷ gần đây, đô thị đã chuyển từ hình thức chức năng sang sinh thái kinh tế, rồi đến thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới
mục tiêu tăng trưởng xanh[7]. Kế đến, đô thị xanh được đưa ra nhằm phát huy đặc điểm môi trường, giảm thiểu phát thải Cacbon và sử dụng năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói. Gần đây nhất (11/2016), Việt Nam đang phát động mô hình đô thị thông minh (Singapore triển khai từ năm 2014), trong đó có TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và 6 thành phố khác, cho hướng phát triển 10-20 năm tới [1][2]. Sự đa dạng các mô hình đô thị trên ở các quốc gia phát triển tựuchung đều hướng tới phát triển bền vững về môi trường, văn hóa và xã hội [10] với đặc trưng khu vực. Ngược lại, tại quốc gia đang phát triển, trào lưu du nhập các mô hình đô thị hiện đại và mới so với chúng ta, đang diễn ra nhiều nơi dưới sự quan tâm của các nhà lãnh
đạo, tổ chức và quy hoạch gia tham gia thực hiện dự án QHĐT.

Trước đòi hỏi yếu tố mới cho đô thị và tư duy nhiệm kỳ, các nhà quản lý đô thị dường như dễ tính hơn cho việc tiếp nhận đưa các mô hình đô thị phương tây theo lối “đi tắt- đón đầu” vào các dự án QHĐT với hy vọng sớm đạt được những hình ảnh đô thị văn minh - hiện đại - bền vững (Trung Quốc, Singapore đã từng là ví dụ điển hình). Về mặt chủ trương không sai, song áp dụng “khái niệm đô thị và mô hình đô thị mới một cách hoàn chỉnh” trong nước còn hạn chế nhiều mặt. Do đó, việc “gắng gò” các hình thức đô thị trên sao cho vừa với khuôn khổ đô thị trong nước (chật hẹp về không gian, hạn chế về năng lực) không thể tránh khỏi. Vì thế, hiện tượng “áp dụng thử” (thực chất mới về tên gọi cho các nội dung cũ) diễn ra ồ ạt mà thiếu đánh giá hệ lụy “thất bại” (try-fault, try- error) dẫn đến lãng phí nguồn lực. Từ đó cho thấy khoảng chênh giữa việc “bản địa hóa” hình thái đô thị vào từng địa phương là khá lớn. Vì thế, sinh ra việc áp đặt các khuôn mẫu phát triển thông qua các dự án QHĐT - sẽ chỉ tạo nên đô thị không hoàn chỉnh và thiếu bền vững. Không ngạc nhiên, khi nhiều thành phần dự án QHĐT không thiết thực, lệch so với nhu cầu thực tế và đã tạo nên kẽ hở pháp lý trong quản lý xây dựng làm bộ mặt đô thị thêm biến dạng.

Mặt khác, các khái niệm, hình thức đô thị mới được diễn giải ngôn ngữ chuyên ngành trừu tượng, khó gần đối với một bộ phận xã hội và đòi hỏi chi phí đầu tư lớn đối với chủ đầu tư. Do đó, nhiều dự án khu đô thị mới (KĐTM) (do tư nhân thực hiện) luôn tìm cách “né tránh” các mô hình đô thị xanh và tiết kiệm năng lượng tốn kém. Ngược lại, các KĐTM luôn gia tăng diện tích kinh doanh, thương mại; tiết giảm diện tích công cộng, cây xanh và mặt nước... Vì thế, ở đây tồn tại một khoảng trống giữa “tính ưu việt dài hạn” của hình thức đô thị mới với “niềm tin ngắn hạn” của chủ đầu tư trong phát triển đô thị. Thích nghi mềm trước Khung luật định cứng Nhu cầu xây dựng công trình hàng năm tại các đô thị là rất lớn, phát xuất từ nhu cầu thiết yếu của các chủ đầu tư nhằm phục vụ mục đích sử dụng khác nhau.

Trong đô thị, việc thưc hiện các dự án, xây dựng công trình đều phải xin phép theo luật định. Tuy nhiên, mong muốn và mục tiêu của chủ đầu tư thường vô hạn và khó chiều trong khi khung pháp định (mật độ xây dựng, chiều cao, tầng cao, chức năng, hình thức kiến trúc quy định theo đồ án QHĐT- quy chế xây dựng được duyệt...) là hữu hạn. Hiểu cách khác, khung quy định cứng là “barrier” - hàng rào kiểm soát hoạt động xây dựng và phát triển đô thị của các nhà quản lý đô thị (theo hướng “top- down”). Trước những hàng rào kiểm soát cứng, các chủ đầu tư (với lối tư duy doanh nghiệp nhanh - nhạy và kinh nghiệm) nhận ra cách thức “xé rào” trong xây dựng cơ bản không còn phù hợp bởi sự kiểm soát chặt trẽ của nhà nước. Ví dụ, công trình 8B Lê Trực (quận Ba Đình), số 53- 55 phố Nhân Hòa (quận Thanh Xuân), Hà Nội đã bị phạt và phải tiến hành cắt ngọn thời gian qua. Những lỗi vi phạm cho thấy mong muốn của chủ đầu tư vượt xa với tính toán của các nhà quy hoạch. Tuy nhiên, để giải quyết bài toán đầu tư, chủ đầu tư đã ứng xử theo chiều sâu nhằm mở “barrier” cứng một cách khéo léo (khi cần) cho quyết tâm thực hiện dự án. Điều này được ngầm hiểu khả năng mở vào cho một số rất ít và đóng kín với đa số trong lĩnh vực xây dựng. Với hiện tượng “đóng- mở” hàng rào, các sản phẩm QHĐT trở nên lạc hậu, khó theo kịp với yêu cầu thực tế khiến các nhà quản lý đôthị chạy theo các chủ đầu tư (hoặc) ngược lại dẫn đến quy hoạch treo.

Ý chí quy hoạch và Quyết tâm đầu tư
Về mặt quản lý nhà nước, QHĐT được xem như là công cụ thể hiện ý chí của nhà lãnh đạo; đồng thời cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa “QHĐT với chính trị” [11]. Theo tinh thần chỉ đạo từ trên xuống, các nhà quy hoạch sẽ chuyển tải ý chí và cụ thể hóa chủ trương vào dự án QHĐT theo các cách và cấp khác nhau. Về nguồn lực, hiện có 3 nhóm thực hiện QHĐT. Thứ nhất, gồm các đơn vị tư vấn thuộc nhà nước (Viện nghiên cứu trực thuộc Bộ chủ quản và trung tâm chuyên môn thuộc Sở địa phương). Nhóm tiếp theo là các công ty (hay) nhóm tư vấn nước ngoài có điểm mạnh vượt trội. Khi thực hiện các dự án tại Việt Nam họ thường liên danh với tư vấn trong nước (nhóm thứ 3) nhằm hợp lý hóa nội dung dự án theo các quy định và yêu cầu của địa phương. Quá trình hợp tác này, phía Việt Nam “khó có thể học hỏi những kinh nghiệm và phương pháp quy hoạch tiên tiến”[4]. Như vậy, KTS và kỹ sư quy hoạch trong nước và nước ngoài vẫn còn tồn tại một khoảng cách lớn về năng lực, phương pháp luận; đồng thời, chênh lệch về nhận thức và chuyên môn sâu khi thực hiện các dự án QHĐT, cho dù các bước triển khai quy hoạch giữa các bên không có sự khác biệt nhiều. Tuy nhiên, hướng phát triển đô thị top - down sẽ gặp một số trở ngại nhất định trước những thay đổi từ các chủ đầu tư khi thực hiện các dự án cụ thể. Từ đó, nảy sinh cơ chế “xin – cho” nếu có khác biệt giữa dự án và QHĐT được duyệt. Một trong nhiều thí dụ cho thấy dự án KĐTM Xala, quận 2, TP.HCM đã thay đổi phân khu chức năng và chỉ giữ lại 2 tuyến đường chính (xuyên tâm và vành đai) trong quy hoạch KĐTM Thủ Thiêm do Sasaki thực hiện (2003-04). Như vậy, bài toán đầu tư ngắn hạn và quyết tâm “mì ăn liền” của các chủ đầu tư nhanh chóng vượt ra khỏi ý chí đô thị bền vững của các nhà hoạch định trước khi thực hiện điều chỉnh QHĐT chu kỳ 5 năm: 1 lần. Khoảng vênh trên cũng xảy ra đối với các dự án công trình thương mại - dân dụng khi chủ đầu tư có tiềm lực với quyết chí vượt giới hạn cho phép khiến cho công tác quản lý nhà nước gặp khó khăn. Hiểu một cách khác, nội dung QHĐT còn thiếu các giải pháp thiết thực cho chính quyền địa phương đối với các vấn đề đô thị mà không phá vỡ quy hoạch được duyệt. Do vậy, để QHĐT đem lại hiệu quả hơn, sự tham gia của cộng đồng (bottom - up) ngay từ ban đầu là rất cần thiết để tránh hiện tượng try - fault và lãng phí về sau.

Thay cho lời kết
Một phần các vấn đề đô thị là hệ quả từ những “khoảng vênh” giữa mô hình ngoại nhập và năng lực nội tại, thích nghi mềm trước khung luật định cứng, ý chí quy hoạch và quyết tâm đầu tư trong hoạt động đô thị hiện nay. Những khoảng cách này đang thách thức các nhà quy hoạch và quản lý đô thị cần đổi mới mạnh mẽ hơn nhằm thu hẹp độ lệch về: nhận thức mô hình đô thị tối ưu và ứng dụng tích hợp, lựa chọn thông minh và kiên định xây dựng đô thị hoàn chỉnh, định hướng quy hoạch sát với yêu cầu thực tế (bằng việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng) ngay từ khi lập nhiệm vụ quy hoạch. Hơn hết, nội dung QHĐT cần đưa ra nhiều giải pháp đa ngành đáp ứng công tác quản lý đô thị sẽ đảm bảo quá trình phát triển môi trường, văn hóa, xã hội một cách bền vững hơn đối với hệ thống đô thị Việt Nam trong tương lai./.
* uem0001@ gmail.com
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Anh. P (2016)., TP.HCM sẽ là đô thị thông minh. Người Lao động, 26/07/2016.
[2]. Anh. H (2016)., Cần Thơ quyết tâm trở thành đô thị thông minh.
Vietnamnet,12/09/2016.
[3]. Anh. T.T.L (2016)., Đổi mới công tác quy hoạch xây dựng đô thị hướng tới phát triển
bền vững. Báo Xây dựng, 09/12/2015.
[4]. Bình. N. M (2011)., Cần có một nhận thức mới cho quy hoạch đô thị ở Việt Nam.
SXD Tỉnh Bình Phước, 08/09/2011.
[5]. Hà & Hương (2013)., Hơn 70 công trình xây sai phép, dùng sai công năng. Tiền
Phong,13/01/2013.
[6]. Huyền. T (2013).,Tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam đạt gần 33%. NDH, 8/11/2013.
[7]. Thanh. L. K (2016)., Tăng trưởng Xanh, nhìn từ góc độ quy hoạch đô thị Xanh. Ashui,
19/10/2016.
[8]. Vietstock (2016)., Năm 2016, tỷ lệ đô thị hóa phấn đấu đạt 36,8%. Vietstock Online,
ngày 16/01/2016.
[9]. VNS (2016).,Việt Nam commits to green growth. Vietnam News, 25/08/2016.
[10]. Claes. G. G (1997).,Swedish Planning Towards Sustainable Development. Swedish
Scociety for Town and Planning. Westlund & Soner, Gavle, Sweden.
[11]. William C. J (1989)., Urban Planning and Politics. American Planning Association.
Washington D.C. USA.

 

(Nguồn:Quang Hà - Tạp chí quy hoạch (Số 82))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website