Thành phố Hà Nội

Bối cảnh Trong những năm gần đây, đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác quy hoạch đô thị thủ đô Hà Nội

Đầu tiên phải kể đến việc Quốc hội thông qua Nghị quyết mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội ngày 29/5/2008, sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây và một số xã của tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc vào Hà Nội, làm gia tăng đáng kể diện tích tự nhiên của thành phố (diện tích đất tự nhiên tăng từ 924km2 tới 3344km2, dân số toàn thành phố tăng từ 3,2 đến 6,4 triệu người). Sự thay đổi lớn về quy mô này đã khiến cho thành phố phải tiến hành xem xét điều chỉnh lại hàng loạt các quy hoạch quan trọng. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội giai đoạn 2010-2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1081/QĐ-TTg ngày 06/7/2011, trong đó đã đề ra các chỉ tiêu tổng thể phát triển kinh tế - xã hội mới cho toàn Thủ đô. Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội tới năm 2030 và tầm nhìn tới 2050 (Quyết định 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011), trong đó xác định các định hướng cơ bản cho xây dựng và quản lý phát triển đô thị thủ đô. Theo định hướng của bản quy hoạch này, cấu trúc đô thị Thủ đô đã hoàn toàn thay đổi, từ mô hình một đô thị trung tâm chuyển sang mô hình đô thị vệ tinh, bao gồm: Đô thị trung tâm và năm đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái.

Luật Quy hoạch đô thị được Quốc hội ban hành tháng 6 năm 2009, trên cơ sở tách và bổ sung các nội dung liên quan đến quy hoạch đô thị trong Luật Xây dựng năm 2003, đã tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ cho công tác lập và quản lý quy hoạch trên toàn quốc. Năm 2010, Thành phố cũng đã tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 15/NQ-TW của Bộ Chính trị và Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội - Cơ sở pháp lý cao nhất cho xây dựng và phát triển thủ đô giai đoạn 2000-2010. Để xác định phương hướng, nhiệm vụ cho phát triển Thủ đô giai đoạn 2011-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 11/NQTW ngày 6/1/2012 và đặc biệt sau hơn 03 năm tổ chức nghiên cứu, hoàn chỉnh, Luật Thủ đô đã được kỳ họp Quốc hội khóa XIII thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/2013, với các cơ chế, chính sách đặc thù về cả bảy lĩnh vực: Quy hoạch, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường đất đai, kinh tế tài chính và an ninh an toàn xã hội.

Luật Thủ đô cũng đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2012, trong đó đã đề ra nhiều cơ chế đặc thù cho Thủ đô Hà Nội trong công tác quy hoạch xây dựng, quản lý dân cư, đầu tư, xây dựng và đặc biệt nhấn mạnh vai trò định hướng, dẫn dắt của Quy hoạch xây dựng trong tổng thể công tác quy hoạch phát triển thủ đô. Những thay đổi kể trên bên cạnh việc tạo ra những thuận lợi cũng đã đặt công tác quy hoạch và quản lý đô thị Hà Nội trước những yêu cầu và thách thức hoàn toàn mới từ việc phải tăng cường đáng kể năng lực lập quy hoạch đến việc phải đổi mới quy trình cho phù hợp cấu trúc đô thị mới, cũng như đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Một số vấn đề khi triển khai quy trình quy hoạch đô thị hiện nay tại Hà Nội:

  • Do Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương nên Quy hoạch chung xây dựng thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 được nghiên cứu dựa trên quan điểm coi cả Hà Nội là một đô thị đặc biệt, đô thị toàn thành phố và không cần tiến hành bước lập quy hoạch vùng (vùng tỉnh), mặc dù về mặt cấu trúc không gian lãnh thổ, thành phố Hà Nội cũng giốngnhưcác tỉnh thông thường. Việc phải tích hợp cả nội dung của đồ án quy hoạch vùng khiến cho phạm vi và nội dung nghiên cứu của đồ án QHC trở nên quá lớn, các định hướng đưa ra mang tính khái quát nên khó áp dụng cho công tác quản lý do vậy phải chờ triển khai các đồ án quy hoạch phân khu để cụ thể cụ thể hóa.
  • Sau khi mở rộng địa giới hành chính, các đô thị của tỉnh Hà Tây cũ (thành phố Hà Đông, thành phố Sơn Tây) tham gia vào không gian đô thị Hà Nội làm thay đổi cấu trúc đô thị thành phố từ mô hình đơn tâm sang mô hình đa tâm. Cấu trúc này được Quy hoạch chung thủ đô khẳng định và định hướng phát triển trở thành mô hình cấu trúc đô thị vệ tinh, bao gồm một đô thị hạt nhân trung tâm và năm đô thị vệ tinh và các thị trấn sinh thái. Do vậy, sau khi hoàn thành Quy hoạch chung, Hà Nội cần phải tiếp tục triển khai rất nhiều các quy hoạch cấp dưới theo quy trình của Luật Quy hoạch đô thị 2009 như sau:
  • Các quy hoạch chuyên nghành hạ tầng kỹ thuật
  • 05 Quy hoạch chung đô thị vệ tinh
  • 12 Quy hoạch chung thị trấn, thị trấn sinh thái, thị xã
  • 15 Quy hoạch huyện
  • 37 Quy hoạch phân khu
  • 09 Quy hoạch chi khu đặc thù đô thị trung tâm
  • 16 Quy hoạch cải tạo khu chung cư cũ
  • 38 Quy hoạch tuyến đường

Nguồn: Số liệu theo Chương trình 06 Thành ủy Hà Nội.

Đây là một khối lượng công việc hết sức đồ sộ. Việc triển khai các quy hoạch này cùng với các quy định quản lý đi kèm theo đúng trình tự quy định của luật Quy hoạch đô thị và luật Xây dựng hiện hành đòi hỏi phải có rất nhiều thời gian trong khi những thay đổi ngoài thực tiễn đô thị diễn ra rất nhanh chóng và công tác cấp phép đầu tư, xây dựng và quản lý quy hoạch lại phụ thuộc hoàn toàn vào các quy hoạch này. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và chất lượng các dự án đầu tư xây dựng và phát triển đô thị. Rất nhiều dự án đầu tư được cấp phép trước khi điều chỉnh Quy hoạch chung phải tiếp tục tạm ngưng triển khai ngay cả sau khi Quy hoạch chung mới đã được phê duyệt để chờ các quy hoạch phân khu hoặc chi tiết liên quan. Công tác cấp phép cho các dự án đầu tư mới cũng bị ảnh hưởng do thiếu các thông tin chỉ số quy hoạch, cũng như các quy định quản lý. Cho đến nay, sau hai năm Quy hoạch chung được phê duyệt, thành phố Hà Nội vẫn chưa ban hành được Quy chế quản lý kiến trúc, quy hoạch toàn thành phố cũng như cho các khu vực đô thị đặc biệt.

  • Việc phủ kín các quy hoạch trên địa bàn Hà Nội cũng đòi hỏi một nguồn lực (nhân lực và vật lực) thực hiện các quy hoạch trên là rất lớn, trong khi việc thực hiện chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách và do các đơn vị tư vấn quy hoạch của Hà Nội và Bộ Xây dựng thực hiện. Do vậy, chưa huy động được sự tham gia của khối tư nhân và doanh nghiệp vào công tác này.
  • Trong quá trình thực hiện đồ án quy hoạch liên quan đến phát triển đô thị Thủ đô, vai trò của Quy hoạch chung cũng như sự phối hợp với Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội cũng các đồ án quy hoạch chuyên nghành khác như Giao thông, cấp, thoát nước... chưa được xác định rõ bằng thể chế. Tồn tại quá nhiều các quy hoạch cho một vấn đề chung liên quan đến xây dựng, phát triển đô thị, dẫn đến sự xé lẻ và chồng chéo giữa các quy hoạch, các cơ quan quản lý. Đây không phải là vấn đề của riêng Hà Nội mà của cả hệ thống quy hoạch nước ta nói chung.
  • Các quy hoạch đô thị vệ tinh Hà Nội được quy hoạch nằm trên địa bàn các huyện ngoại thành chỉ có giá trị về mặt quy hoạch mà chưa được định nghĩa rõ về mặt tổ chức đơn vị hành chính cũng như cơ chế quản lý sau này.

Một số đề xuất đổi mới:
1). Cấu trúc lại hệ thống, quy trình quy hoạch tầng bậc hiện tại

  • Đối với đô thị trung tâm Hà Nội: Tiến hành đầy đủ các bước lập quy hoạch đô thị theo luật hiện hành, tuy nhiên không phủ kín quy hoạch phân khu mà chỉ lập cho các khu vực phát triển đô thị.
  • Đối với các đô thị vệ tinh: Rút ngắn quy trình quy hoạch đô thị hiện tại: Quy trình đề xuất sẽ bao gồm hai bước:

Quy hoạch chung # Quy hoạch chi tiết và Thiết kế đô thị
Lồng ghép Quy hoạch phân khu vào Quy hoạch Chung. Để có thể thực hiện được điều này cần tiến hành đổi mới nội dung, và nâng cao năng lực quản lý cho đồ án Quy hoạch chung theo hướng tích hợp nội dung của Quy hoạch phân khu và đổi mới phương pháp nghiên cứu, nội dung của đồ án Quy hoạch chung hiện hành.
2). Lồng ghép, hợp nhất đa ngành

  • Lồng ghép các nội dung của quy hoạch tổng thể KT-XH, các quy hoạch nghành, các quy hoạch Vùng vào quy hoạch đô thị. Về lâu dài, đề xuất hướng tới xây dựng một quy hoạch tổng thể hợp nhất đa nghành cho phát triển đô thị thủ đô.
  • Đảm bảo sự phối hợp, thống nhất giữa các quy,hoạch có liên quan: Hướng tới việc xây dựng một Quy hoạch tổng thể hợp nhất đa ngành cho quy hoạch phát triển thành phố, trong đó có sự lồng ghép quy hoạch đô thị với các quy hoạch khác có liên quan.

3). Đổi mới nội dung đồ án quy hoạch đô thị

  • Lồng ghép Chiến lược phát triển đô thị vào nội dung đồ án QHC.
  • Tăng cường nội dung quản lý cho đồ án quy hoạch chung.
  • Lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững.
  • Đổi mới nội dung các hợp phần kiến trúc, kinh tế, hạ tầng và môi trường.

4). Đề xuất về sự tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị

  • Đề xuất sự tham gia và giám sát của cộng đồng theo những hình thức phù hợp trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện đồ án quy hoạch.

5). Đổi mới hệ thống và công tác quản lý

  • Hình thành cơ quan đầu mối, đa nghành về quản lý hoạt động quy hoạch (tổ chức lập, thẩm định…).
  • Tăng cường công tác phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương trên cơ sở nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách;
  • Nghiên cứu xây dựng, áp dụng mô hình chính quyền đô thị cho thủ đô Hà Nội: Nhằm nâng cao hơn nữa vai trò và năng lực của UBND, HĐND thành phố trong công tác điều hành, tổ chức phối hợp các cơ quan, đơn vị tham gia vào công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển thành phố;
  • Nâng cao năng lực của HĐND, hình thành các Ban chuyên môn để xem xét các định hướng, giám sát thực hiện.
  • Nghiên cứu mô hình quản lý đô thị phù hợp cho các đô thị vệ tinh: Kiến nghị quản lý các đô thị vệ tinh theo mô hình chính quyền đô thị trực thuộc chính quyền thành phố Hà Nội;
  • Hoàn thiện hệ thống pháp lý về quản lý phát triển đô thị: Đặt trọng tâm vào công tác quản lý đầu tư và xây dựng các khu đô thị mới; Sớm nghiên cứu, ban hành Luật Phát triển đô thị, Luật Cảnh quan…

Đề xuất trước mắt:

  • Thực thi một cách linh hoạt Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị tại địa bàn Hà Nội: Đề xuất không cần lập quy hoạch phân khu tại các khu vực đô thị trung tâm phát triển ổn định và đã có các quy hoạch chi tiết Quận.
  • Tiến hành các Quy hoạch phân khu gắn với địa giới hành chính (không máy móc theo các phân khu chức năng) để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thực hiện sau quy hoạch.
  • Nghiên cứu mô hình quy hoạch huyện nông thôn mới phù hợp cho Hà Nội.
  • Xây dựng Đề án thành lập các thành phố vệ tinh của Hà Nội theo lộ trình và phù hợp với Luật tổ chức chính quyền địa phương
(Nguồn:TS.KTS. Nguyễn Trung Dũng - Tạp chí quy hoạch (Số 82))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website