Định hướng phát triển bền vững

1.Giới thiệu vấn đề Vấn đề liên kết giữa nông thôn và đô thị từ lâu đã được thiết lập và diễn ra như một sự tất yếu. Khi nền kinh tế càng phát triển thì vấn đề liên kết giữa nông thôn và đô thị càng mạnh mẽ và rõ nét hơn. Liên kết thể hiện trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội, môi trường với cường độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của từng địa phương.

Một số khía cạnh của liên kết nông thôn – đô thị nổi bật như: liên kết trong sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ, phân phối sản phẩm, liên kết về tài chính, nguồn nhân lực (thị trường lao động), cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, đào tạo nghề, xử lý các vấn đề về môi trường,...

Liên kết giữa nông thôn và đô thị dựa trên các cơ sở như: Sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội; khác nhau về thị trường hàng hóa và quy mô thị trường giữa nông thôn và thành thị; khác nhau về cơ hội cũng như chi phí khi liên kết giữa nông thôn và đô thị; khác nhau về cơ sở hạ tầng giữa nông thôn và đô thị; Giải quyết các bài toán tập thể giữa nông thôn và đô thị: kinh tế - xã hội – môi trường. Mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế xã hội và môi trường bền vững.

Để hiểu hơn về vấn đề liên kết nông thôn và đô thị bài viết này sẽ trình bày về một số mô hình liên kết giữa nông thôn và đô thị theo định hướng phát triển bền vững. Qua đó phần nào sẽ giúp các nhà nghiên cứu, những nhà quản lý có cơ sở để đưa ra những định hướng hợp lý thúc đẩy mối liên kết giữa nông thôn và đô thị hiệu quả theo hướng phát triển bền vững.

2. Một số mô hình liên kết nông thôn - đô thị theo định hướng PTBV

2.1. Liên kết giữa các chủ thể

2.1.1. Liên kết giữa các chủ thể quản lý vĩ mô (Xét ở cấp chính quyền địa phương)

Liên kết giữa nông thôn và đô thị được thể hiện bởi các liên kết ngang - liên kết giữa các chính quyền cùng cấp trong nội vùng (nông thôn/đô thị), giữa các cấp chính quyền ở nông thôn với các cấp chính quyền ở đô thị. Các liên kết dọc thể hiện các mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương; giữa các cấp trong chính quyền địa phương; giữa chính quyền địa phương với các tổ chức và cá nhân do nó quản lý

Trong đó:

Liên kết giữa nông thôn và đô thị trên khía cạnh kinh tế bao gồm: Phối hợp trong việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành và ở cả khu vực nông thôn và đô thị; Phối hợp trong việc hình thành chính sách thu hút và phân bổ đầu tư; Xây dựng và phát triển các sản phẩm đặc trưng; Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá, cảng biển, sân bay; cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc; bệnh viện, trường học, trung tâm nghiên cứu; Xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; vùng sản xuất nông nghiệp; trung tâm thương mại, du lịch và dịch vụ; Phát triển nguồn nhân lực, thu hút nhân tài; Hệ thống cơ sở dữ liệu vùng và trao đổi thông tin về quản lý, về sản phẩm, về thị trường; Tạo lập và phát triển các mối liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và hộ gia đình trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm;

Liên kết giữa nông thôn và đô thị trên khía cạnh xã hội bao gồm: Phối hợp trong việc giải quyết việc làm; Hợp tác trong xóa đói giảm nghèo; Giải quyết các vấn đề liên quan đến di cư và di chuyển lao động và nhà ở; Đào tạo và dạy nghề; Giải quyết các tệ nạn xã hội và xung đột cộng đồng; Chống các loại tội phạm; Giữ gìn và phát huy các phong tục, tập quán; bảo vệ các di tích lịch sử; Khuyến khích sự hình thành và quản lý các tổ chức, mạng lưới xã hội;

Liên kết nông thôn và đô thị trên khía cạnh môi trường bao gồm: Bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Chống sự ô nhiễm đất, nước và không khí; Xây dựng các công trình, dự án xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường;

Liên kết các chủ thể quản lý vĩ mô có thể mang tính song phương hoặc đa phương (bao gồm cả nội vùng và ngoại vùng); có thể được thể hiện dưới dạng các thỏa thuận hoặc hiệp định; có thể chỉ là sự trao đổi thông tin hoặc hành động tập thể; và/hoặc sự kết hợp của nhiều hình thức nêu trên.

2.1.2. Liên kết giữa các chủ thể vi mô

Các mối liên kết giữa nông thôn và đô thị của các chủ thể vi mô ở cấp độ vùng, trong đó trung tâm là các mối liên kết ngang và dọc giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng. Mỗi loại chủ thể ngoài quan hệ với các chủ thể khác còn liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành các mạng lưới, qua đó hình thành các liên kết dọc và ngang.

Các cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh lành mạnh. Các trường học và viện nghiên cứu có vai trò như những trung tâm tiếp thu và chuyển giao kiến thức. Các tổ chức xã hội và nghề nghiệp ở góc độ nào đó cũng có vai trò trong việc chuyển giao và phổ biến kiến thức thông qua các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo. Các tổ chức công và tư khác như cơ quan xúc tiến thương mại, văn phòng đại diện góp phần vào việc cung cấp thông tin, tư vấn, tìm kiếm thị trường và thúc đẩy các hoạt động hợp tác.

2.2. Liên kết giữa nông thôn và đô thị dựa trên quy mô và cường độ liên kết

2.2.1. Liên kết cực/trung tâm tăng trưởng

Perroux (1955) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về cực tăng trưởng. Ông nhấn mạnh vai trò của ngành (hoặc doanh nghiệp lớn) có sức lan tỏa mạnh, xem nó có vai trò then chốt trong quá trình phát triển. Các ngành này có khả năng đổi mới cao, và đó cũng chính là trụ cột của quá trình phát triển kinh tế. Chúng thường tập trung tại các khu vực riêng biệt, có thể là các trung tâm để khai thác nguyên liệu, sản xuất và phân phối điện năng, nghiên cứu công nghệ hay chế biến nông sản. Chúng có sự tương tác mạnh với nhiều doanh nghiệp khác, có mức độ chi phối cao và quy mô lớn. Do tính chất này, các ngành như vậy thường mang lại hiệu ứng lan tỏa, như tăng thu nhập và việc làm đối với môi trường xung quanh. Những hiệu ứng lan tỏa có lợi này được kích thích bởi sự tập trung của các ngành hay doanh nghiệp nêu trên và bất cứ sự tập trung nào như vậy được xem như một cực tăng trưởng hoặc phát triển.

Bệnh cạnh đó, Boudeville (1966) đưa ra khái niệm cực tăng trưởng vùng là một tập hợp các ngành mang tính động lực đặt địa điểm tại khu vực đô thị và kéo theo sự phát triển của các hoạt động kinh tế trong cả khu vực mà nó ảnh hưởng. Ngoài sự nhấn mạnh các ngành năng động nên được tập trung về mặt địa lý. Boudeville cũng tiếp tục mở rộng khái niệm cực tăng trưởng bằng cách lập luận rằng có ba loại không gian: đồng nhất, phân cực và hoạch định. Trong đó, vùng đồng nhất có đặc điểm là bao gồm các bộ phận tương đối giống nhau; vùng phân cực là không gian không đồng nhất, bao gồm một tập hợp các cực mang tính kinh tế có nhiều quan hệ trao đổi (hàng hóa và dịch vụ) hoặc liên kết với cực chi phối hơn các cực khác cùng loại.

Friedmann (1966) đã mở rộng về khái niệm cực tăng trưởng là mô hình trung tâm – ngoại vi. Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ đến thông qua sự xuất hiện của một hệ thống thứ bậc các thành phố và thị trấn có trình độ phát triển cao và liên hệ chặt chẽ với nhau, và sự tăng trưởng như vậy tỷ lệ với quy mô tập trung. Hệ thống thứ bậc là phương tiện để kết nối ngoại vi với trung tâm (hoặc hạt nhân). Friedman cũng sử dụng khái niệm vùng phân cực và cho rằng ngoại vi của vùng phân cực bao gồm 4 loại: chuyển tiếp phía trên (upward transitional), chuyển tiếp phía dưới (downward transitional), ranh giới nguồn lực (resource frontier) và khó khăn đặc biệt (special problem). Vùng chuyển tiếp phía trên là những vùng đang tăng trưởng với tiềm năng lớn nhưng bị hạn chế bởi nguồn vốn. Vùng chuyển tiếp phía dưới là những nền kinh tế đang suy giảm và có tốc độ di cư cao. Vùng ranh giới nguồn lực là những khu vực mới hình thành với tiềm năng tăng trưởng cao. Vùng khó khăn đặc biệt là những vùng đang cần sự can thiệp chính sách hơn các vùng khác và việc xử lý những vấn đề vùng không thể được thực hiện một cách riêng rẽ mà cần sự xem xét trong hệ thống tổng thể vùng.

Theo Hansen (1981) đưa ra quan điểm về các hoạt động kinh tế vùng theo định hướng đô thị có hai yếu tố chính: một hệ thống các thành phố được sắp xếp theo thứ bậc chức năng và các khu vực tương ứng bị ảnh hưởng đô thị xung quanh mỗi thành phố trong hệ thống. Theo quan điểm này, những hoạt động đổi mới dẫn tới sự phát triển lan tỏa từ trung tâm cao đến trung tâm thấp hơn trong thứ bậc các đô thị và cũng từ trung tâm đô thị đến các vùng ngoại vi trung gian của chúng. Ngoài ra, cường độ của sự phát triển vùng được quyết định bởi độ lớn và chức năng của trung tâm đô thị. Sự lan tỏa đổi mới mang tính thứ bậc này nhấn mạnh tới tầm quan trọng của sự đổi mới liên tục ở các trung tâm lớn - nhân tố chủ chốt của toàn bộ hệ thống vùng. Sự liên hệ giữa lan tỏa đổi mới mang tính thứ bậc và và các cực tăng trưởng được thực hiện nhằm kéo các vùng tụt hậu gần hơn với hệ thống quốc gia mang tính thứ bậc, chắt lọc và truyền bá kiến thức từ các trung tâm đô thị tới các vùng ngoại vi.

Ở các nước đang phát triển các nhà hoạch định chính sách tin rằng để khắc phục những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội giữa các vùng và giữa các trung tâm đô thị và vùng ngoại vi cần phải thực hiện chiến lược cực tăng trưởng. Nhưng do thiếu nguồn lực nên ở các nước này chính sách cực tăng trưởng chỉ có thể tập trung vào một vài trung tâm đô thị nhằm đạt được lợi thế nhờ quy mô và sự tập trung. Các chính sách theo kiểu cực/trung tâm tăng trưởng được thực hiện theo nhiều hình thức. Một số tập trung vào cơ sở hạ tầng, hướng tới cung cấp mức độ cơ bản điện, nước, giao thông và các tiện ích công cộng khác. Một số khác dựa vào các ngành công nghiệp nặng với các dự án gắn với các cụm công nghiệp được bố trí xung quanh các lĩnh vực sắt thép, nhôm, hóa dầu và cơ khí nặng. Yếu tố chung của tất cả các dự án này là tầm quan trọng của việc sử dụng trực tiếp các khoản đầu tư có quy mô lớn để tạo ra sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế (Serra, 2003).

2.2.2. Liên kết cụm/mạng lưới vùng

Cách tiếp cận này dựa trên khái niệm “nông chính” (agropolitan) được Friedmann & Douglass (1978) xây dựng. Đây là kiểu tiếp cận “từ dưới lên” (bottom-up) trong hoạch định phát triển và có những đặc điểm sau: i) quy mô về địa lý tương đối nhỏ; ii) có mức độ tự chủ cao trong hoạch định và ra quyết định, dựa trên sự tham gia của cộng đồng và hành động tập thể ở cấp độ địa phương; iii) sự đa dạng của lao động nông nghiệp, bao gồm cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp, nhấn mạnh tới công nghiệp hóa nông thôn ở quy mô nhỏ; iv) có sự kết nối chức năng công nghiệp giữa đô thị và nông thôn, dựa trên các nguồn lực và cơ cấu kinh tế địa phương; và v) có sự sử dụng và đánh giá liên tục các nguồn lực và công nghệ địa phương (Mercado, 2002).

Khái niệm mạng lưới dựa trên ba nền tảng cơ bản (Douglass, 1998): Thứ nhất, sự đa dạng trong các liên kết nông thôn – thành thị rất cao, thậm chí trong cả các vùng ngoại vi của cùng một đô thị trung tâm. Sự tăng trưởng và phát triển của vùng vì thế không dựa trên một trung tâm duy nhất. Liên kết giữa các trung tâm mang tính bổ sung, tác động qua lại và theo chiều ngang. Thứ hai, những cụm tập trung như vậy trên thực tế đã tồn tại cho dù ở dạng sơ khai. Sự tương tác giữa các làng mạc và thị trấn, không chỉ bị giới hạn trong các mối quan hệ song phương, tạo thành các mạng lưới với nhiều mức độ khác nhau trong và ngoài vùng. Thứ ba, cụm tập trung với những sự tương tác mạnh mẽ và liên kết tốt giữa các tác nhân có thể tốt hơn một cực tăng trưởng trong việc thu được lợi thế nhờ quy mô và sự đa dạng. Với sự thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian do sự phát triển của hệ thống thông tin liên lạc và giao thông hiện đại, các làng mạc và thị trấn tương đối phân tán có thể kết nối với nhau để tạo ra một phạm vi có hiệu quả những tương tác hàng ngày, điều không thể có được ở hầu hết các vùng nông thôn vài thập kỷ trước đây.

Douglass (1998) đưa ra năm sự khác biệt cơ bản giữa cách tiếp cận cụm/mạng lưới vùng và cực tăng trưởng:

Một là, trong khi cực tăng trưởng chỉ tập trung vào công nghiệp đô thị như lĩnh vực dẫn dắt sự phát triển vùng thì mạng lưới vùng thừa nhận tính chất đa lĩnh vực của sự phát triển ở cấp độ địa phương và công nhận vai trò của các nguồn lực sẵn có và các hoạt động hiện tại của vùng.

Hai là, phần lớn các chính sách cực tăng trưởng theo cách tiếp cận từ trên xuống có thứ bậc, nghĩa là ngầm giả định quy mô của các đô thị có thể được sử dụng như một chỉ tiêu chủ yếu để xác định thành phố trung tâm của vùng, và hơn nữa các đô thị có cùng quy mô thì sẽ có cùng chức năng. Trong khi đó cách tiếp cận mạng lưới vùng chỉ ra rằng không chỉ quy mô của đô thị không phải là chỉ tiêu đầy đủ của tiềm năng tăng trưởng và liên kết vùng, mà còn các đô thị có cùng quy mô có thể có những chức năng và con đường phát triển khác nhau.

Ba là, cách tiếp cận cực tăng trưởng thường xem nông thôn là các vùng trì trệ và sự phát triển của chúng phụ thuộc vào ảnh hưởng lan tỏa hoặc “thấm xuống” từ đô thị. Cách tiếp cận mạng lưới trong khi đó cho rằng các khoản đầu tư hợp lý vào nông nghiệp có thể tạo ra mức thu nhập đầu người cao hơn ở nông thôn, và tiếp đó sự thịnh vượng của nông thôn là nguồn động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng đô thị ở các vùng nông nghiệp. Cùng lúc đó, các khoản đầu tư có chọn lọc vào các chức năng trợ giúp vùng ở các thành phố có thể giúp làm tăng tiềm năng tăng trưởng của cả thành thị và nông thôn.

Bốn là, sự khác biệt chủ yếu giữa hai cách tiếp cận nêu trên nằm ở cách thức kế hoạch hóa. Trong cách tiếp cận cực tăng trưởng, các nút đô thị là tác nhân vùng quan trọng nhất. Phân chia ranh giới giữa các vùng ngoại vi của chúng là công việc không cần thiết và vô nghĩa, do đó ranh giới vùng không rõ ràng. Ngược lại, tính chất đa lĩnh vực của khái niệm cụm tập trung hàm ý nhu cầu về một khả năng nội vùng phối hợp một số lượng lớn các hoạt động tương tác. Sử dụng các ranh giới cấp tỉnh hoặc huyện như cấp độ mà tại đó sự phối hợp và thống nhất trong lập kế hoạch được triển khai do vậy trở thành một khía cạnh quan trọng của cách tiếp cận cụm/mạng lưới.

Năm là, các chính sách cực tăng trưởng được xây dựng trên động cơ thu hút các hoạt động công nghiệp, nghĩa là cung cấp cơ sở hạ tầng cho công nghiệp đô thị và mở rộng các quốc lộ nối giữa các cực tăng trưởng với thủ đô, và rộng hơn với thị trường quốc tế. Ngược lại khái niệm mạng lưới khẳng định sự cần thiết mở rộng cơ sở hạ tầng của cả nông thôn lẫn thành thị, và nhấn mạnh đến hệ thống giao thông địa phương kết nối giữa các trung tâm chính, thị trấn và làng mạc trong vùng. Sự quan tâm chú ý cũng được phân bổ đều giữa vốn xã hội và các loại vốn kinh tế. Việc cung cấp điện, nước sạch, hệ thống tưới tiêu và các dịch vụ y tế không chỉ là vấn đề phúc lợi mà còn có tầm quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và giữa gìn môi trường trong vùng, điều cần thiết để duy trì tăng trưởng kinh tế. 

Để đưa mô hình cụm/mạng lưới vùng vào thực tiễn cần vượt qua một số trở ngại chính, bao gồm sự phân đôi trong hoạch định chính sách thành các cơ quan lập kế hoạch nông thôn và thành thị - thứ tạo ra sự kình địch hơn là hợp tác - và sự phân chia về mặt hành chính mà tách biệt các đô thị khỏi vùng ngoại vi trong hoạch định và quản lý ở cấp địa phương. Ngoài ra, các mô hình tập trung chủ yếu vào các nút đô thị hơn là vùng nông thôn cần phải loại bỏ để tính tới sự khác biệt mang tính địa phương của các mối liên kết nông thôn - thành thị trong việc xác định các thành tố của hệ thống vùng.

3. Kết luận

Trên đây là một số mô hình liên kết giữa nông thôn và đô thị tác giả đã tổng kết từ các kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế học, nhà xã hội học đã đưa ra. Qua việc khái quát các mô hình liên kết nông thôn đô thị cho ta thấy một cái nhìn tổng quát, đa chiều cạnh và vấn đề liên kết giữa nông thôn và đô thị như một nhu cầu tất yếu khách quan. Mối liên kết giữa nông thôn và đô thị không chỉ có một mà đa chiều, không chỉ giữa vùng nông thôn này với vùng đô thị kia mà với các vùng nông thôn với nhau, các vùng đô thị với nhau và giữa các vùng nông thôn này với các vùng đô thị khác. Liên kết giữa nông thôn và đô thị rất đa dạng trên nhiều cấp độ: vi mô và vĩ mô; liên kết trên nhiều lĩnh vực: liên kết kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, thể chế,…tạo nên một mạng lưới liên kết khăng khít để cùng phát triển bền vững.

Trên thế giới đã có nhiều quốc gia với nhiều mô hình liên kết nông thôn và đô thị rất thành công: liên kết tạo lập thị trường tài chính (thiết lập các chương trình tìn dụng), liên kết thị trường lao động (chương trình di cư), liên kết thị trường hàng hóa và dịch vụ,… tạo nên một sự phát triển chung. Tuy nhiên thì mỗi quốc gia, mỗi vùng có những đặc trưng kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường riêng. Vì vậy, mô hình liên kết nông thôn – đô thị áp dụng ở quốc gia này có thể rất thành công tuy nhiên có thể sẽ không thành công ở quốc gia khác, địa phương khác. Vì vậy, khi học hỏi kinh nghiệm từ các nước có sự kế thừa, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc phù hợp với điều kiện riêng của từng vùng, từng quốc gia.

Việc nghiên cứu và đưa ra những cơ sở lý luận khoa học cùng với tình hình thực tế của từng địa phương, vùng miền đưa ra các giải pháp thiết thực thúc đẩy quá trình liên kết nông thôn – đô thị theo định hướng phát triển bền vững là rất cần thiết. Thông qua nghiên cứu về vấn đề liên kết vùng, liên kết nông thôn đô thị, tổng kết một số mô hình liên kết nông thôn – đô thị tác giả gợi mở ra một số vấn đề nên được quan tâm, nghiên cứu tiếp: Góp phần giảm nghèo bền vững thông qua liên kết nông thôn – đô thị (giảm nghèo bền vững cho người dân chỉ bằng cách tạo cho họ công ăn việc làm, thu nhập ổn định, hỗ trợ các điều kiện cơ bản: cơ sở hạ tầng, vốn, kỹ thuật,...); liên kết doanh nghiệp với nông dân góp phần phát triển nông nghiệp xanh;

 

(Nguồn:Đỗ Thị Kim Anh - Tạp chí Quy hoạch (Số 89+90))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website