Cơ chế xây dựng dữ liệu phát triển đô thị bền vững

Trên nhiều diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế cũng như trong các chính sách, chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triển bền vững luôn nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại. Ở Việt Nam, phát triển bền vững là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà nền kinh tế hướng tới.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, vào năm 1991, Việt Nam đã thông qua " Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền  1991-2000". Tiếp đó, ngày 17/8/2004 Chính phủ đã ra quyết định số 153/2004/TTg ban hành văn bản "Định hướng Chiến lược về phát triển bền vững ở Việt Nam - (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)".  Ngày 12/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã bàn hành Quyết định số 432/QĐ-TTg của:  Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011. Các Định hướng và chiến lược đã đánh dấu một thời kỳ mới thực hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam. Đó là "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường". Đây là một cách tiếp cận mang tính hệ thống, dài hạn, bảo đảm sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường theo hướng bền vững. Định hướng chiến lược đề ra khung chính sách để các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội thiết kế và thực hiện chương trình hành động tiến tới PTBV của mình.

Đối với phát triển đô thị, một đô thị bền vững phải là một phần của một khu vực bền vững rộng lớn hơn. Vì vậy tiêu chí để xây dựng một đô thị bền vững trước tiên phải thoả mãn những yêu cầu mà sự nghiệp phát triển bền vững đòi hỏi, sau đó phải là những tiêu chí phản ánh các khả năng đóng góp quan trọng của đô thị vào một “khung cảnh” phát triển bền vững chung khi tính đến các chi phí đầu tư xây dựng, bảo vệ tài nguyên, môi trường, sinh thái trong các hoạt động của mình.

1. Kinh nghiệm quốc tế

Các đô thị ở châu Âu như Aalborg (Đan Mạch), Amsterdam, Breda và DenHaag hay Hague (Hà Lan), Angers (Pháp), Brussels (Bỉ), Freiburg và Hannover, Leipzig (Đức), Leicester (Anh), Temi (Italia), Valencia (Tây Ban Nha) trong những năm 1990 đã đã xây dựng được hệ thống 10 chỉ tiêu phát triển đô thị bền vững:

(1) Môi trường trong lành, được đánh giá bằng số ngày trong năm có chất lượng không khí không vượt quá tiêu chuẩn địa phương.

(2) Không gian xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số người đến được với vườn cây xanh ở khoảng cách nhất định.

(3) Sử dụng hiệu quả tài nguyên, được đánh giá bằng toàn bộ năng lượng; nước tiêu thụ; phế thải đem loại bỏ (không kể số phế thải được tái chế hay sử dụng lại) tính theo đầu người trong một nãm. Tỷ lệ giữa các nguồn năng lượng có thể tái sinh và không tái sinh.

(4) Chất lượng môi trường tin cậy, được tính bằng tỷ lệ không gian mở cho diện tích được dùng ô tô.

(5) Khả năng đi lại, được tính bằng số kilomét đi bằng phương tiện giao thông (ô tô, xe đạp, vận tải công cộng…) tính theo đầu người trong một năm.

(6) Nền kinh tế xanh, được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm số công ty đã kết hợp các phương pháp kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) hoặc các phương pháp tương tự.

(7) Độ trường tồn, được đánh giá bằng số các hoạt động hoặc phương tiện văn hoá và xã hội (danh mục này còn đang được bổ sung)

(8) Sự tham gia của cộng đồng, được xác định thông qua số các nhóm hoặc tổ chức tình nguyện tính trên 1.000 dân và ước chừng số thành viên.

(9) Công bằng xã hội, được phản ánh qua tỷ lệ phần trăm số người sống dưới mức nghèo khổ, và tỷ lệ số người không được tiếp cận tới những dịch vụ cơ bản của đô thị như nhà ở, việc làm, độ ổn định của thu nhập, hưởng chăm sóc y tế, giáo dục chính quy…

(10) Phúc lợi, được đánh giá thông qua việc khảo sát sự thoả mãn của các công dân về chất lượng đời sống (nội dung khảo sát được địa phương quyết định)

Trên cơ sở những chỉ tiêu cốt lõi, các thành phố của Châu Âu đã dựa vặo đặc điểm địa phương, điều kiện vùng lãnh thổ mà bổ sung hoàn thiện các chỉ tiêu Đô thị bền vững cho từng đô thị cụ thể.

Đô thị ở Châu Á có rất nhiều khác biệt với phát triển đô thị tại châu Âu, cho nên hệ thống Chỉ tiêu Đô thị bền vững ở châu Á cần phải được xây dựng trên điều kiện và thực tiễn của mình. Hơn nữa bền vững là một quá trình hành động, nên việc định hướng và từng bước thực hiện có hiệu quả là rất quan trọng. Ngân hàng thế giới đã có các nghiên cứu chỉ ra 4 tiêu chuẩn của một đô thị bền vững ở châu Á, đó là: Có khả năng cạnh tranh tốt; Quản lý tốt; Khu định cư lành mạnh; Có nền Tài chính ổn định. Đây là 4 tiêu chuẩn cần đươc xem xét xây dựng thành các chỉ tiêu cốt lõi đánh giá mức độ phát triển Đô thị bền vững tại Việt Nam.

1. Khả năng cạnh tranh tốt

Ngày nay, với khả năng cạnh tranh tốt, một đô thị mới có thể cân đối ngân sách thông qua việc phát triển sản xuất, thu nhập bình quân đầu người, lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và giải quyết nghèo đói, đặc biệt là nghèo đói ở các nhóm yếu.Khả năng cạnh tranh của một đô thị phụ thuộc vào nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, lợi thế vị trí địa lý, tiềm năng văn hoá, trình độ nguồn nhân lực cao, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng mà đô thị có được, V.V..Đánh giá khả năng cạnh tranh của một đô thị, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

– Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người/ nãm, tính theo USD.

– Tỷ lộ tăng trưởng kinh tế hàng năm nói chung và của từng ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ … nói riêng.

– Cơ cấu kinh tế đảm bảo sự bền vững lâu dài.

– Phần đóng góp của đô thị vào ngân sách quốc gia hàng năm.

– Tổng giá trị vốn đầu tư nước ngoài.

– Tỷ lệ người sử dụng điện thoại và Internet trên 1.000 dân.

– Tỷ lệ người lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học.

– Tỷ lệ người lao động tốt nghiệp đại học và dạy nghề.

– Số lượng trường đại học, viện nghiên cứu trong thành phố.

– Số lượng doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá có chất lượng cao được người tiêu dùng chọn lựa. v.v…

Tuy nhiên, để thấy hết khả năng cạnh tranh của đô thị chúng ta cần chỉ tiêu hoá các tiềm năng này. Trong quá trình giám sát đô thị bền vững phải chỉ ra được thế mạnh cạnh tranh chính cũng như việc duy trì tiềm năng lâu dài để điều chỉnh chiến lược phát triển được hiệu quả hơn, tiệm cận tính bền vững ngày một tốt hơn. Tránh xu hướng phát triển chỉ đem lại lợi ích trước mắt mà thiếu sự bền vững trong tương lai.

2. Quản lý tốt

Muốn quản lý tốt trước hết phải có một quy hoạch đô thị tương đối hoàn chỉnh - một quy hoạch vừa thể hiện tầm nhìn xa rộng lại vừa phải mang tính khả thi cao, vừa bao gồm cả những đề án ngắn hạn lẫn những đề án dài hạn lại vừa phải hạn chế đến mức thấp nhất khả năng “quy hoạch treo”. Quy hoạch phải sát đúng bảo đảm phát triển bền vững nhưng không khả thi so với sức chịu đựng của nền kinh tế đương thời.

Phải có một chính quyền nghiêm minh và chuyên nghiệp. Muốn nghiêm minh thì cần phải thật sự sâu sát, vì vậy ở đây còn có vấn đề phân cấp quản lý một cách hợp lý. Muốn chuyên nghiệp thi cần phải có đội ngũ người làm nghề là các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng được đào tạo, luân chuyển công tác đến các địa phương.

Bên cạnh đó, cần cần xây dựng hệ thống thông tin về quy hoạch và phát triển đô thị tập trung tạo môi trường đơn giản, thuận tiện cho việc khai thác, sử dụng phục vụ nhanh chóng các nhu cầu về khai thác thông tin, tin học hóa quá trình giải quyết các thủ tục hành chính.

- Với lãnh đạo: cung cấp thông tin đa chiều, tổng hợp và thuộc nhiều chủ đề khác nhau, thông tin mang tính tri thức hỗ trợ việc ra quyết định.

- Với đơn vị quản lý xây dựng đô thị cung cấp một hệ thống thông tin thống nhất từ đáp ứng yêu nghiệp vụ;kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch xây dựng, phát hiện xử lý vi phạm chưa kịp thời và triệt để; Nhiều khu vực của thành phố có khả năng thu hút đầu tư xây dựng lớn nhưng chưa được khai thác, nhiều cơ hội đầu tư xây dựng bị bỏ lỡ do có một số dự án “treo” mà sau nhiều năm, nay mới bị xử lý… Một số dự án bị thu hồi và chuyển giao cho nhà thầu khác thực hiện

- Với các đơn vị có nhu cầu sử dụng thông tin về quy hoạch, xây dựng từng khu vực đô thị, lô đất  có thể tiệp cận khai thác thông tin

- Với cộng đồng: cung cấp một kênh tra cứu thông tin về quy hoạch, khu vực phát triển đô thị, khu đất dự kiến sẽ đầu tư hoặc biết được trạng thái xây dựng của từng lô đất để  

3. Khu dân cư an toàn, lành mạnh không có tệ nạn

Trước hết, khu dân cư phải có môi trường vật chất, đô thị lành mạnh có môi trường không bị ô nhiễm bởi khói bụi, rác rưởi, cống rãnh bế tắc, không ô nhiễm bởi âm thanh. Đây cũng là những khu dân cư có cơ sở hạ tầng tốt và hoàn chỉnh: Giao thông, cống rãnh, điện, nước. Có rất ít hoặc hoàn toàn không có các khu ổ chuột nghèo khổ nhếch nhác. Và đặc biệt, có nhiều không gian giao lưu cộng đồng.

Về môi trường xã hội, đô thị lành mạnh được đảm bảo an ninh: Không trộm cắp, không có tệ nạn xã hội như: xã hội đen, khủng bố, các ổ lừa đảo, cờ bạc, mê tín dị đoan. Đô thị có nếp sống văn minh công cộng cao không có hiện tượng ăn mày – ăn xin nơi công cộng. Quan hệ xã hội giữa các thành viên trong cộng đồng là thân ái cởi mở. Công tác quản lý đô thị chặt chẽ có nề nếp.

Khu đô thị phải tạo điều kiện sống tốt, đầy đủ các dịch vụ văn hóa, nghệ thuật, giáo dục cho người dân. Chất lượng và chi tiêu kinh tế sinh hoạt hàng ngày không đắt đỏ. Các dịch vụ tiện ích thân thiện tôn trọng quyền con người. Đánh giá khu định cư lành mạnh có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

– Chất lượng môi trường bao gồm: chất lượng không khí, nước, đất, đa dạng sinh học, quản lý chất thải rán, ô nhiễm và các chất độc hại, v.v…

– Diện tích nhà ở bình quân đầu người.

– Thu nhập bình quân đầu người.

– Tỷ lệ hộ được dùng điện và nước sạch.

– Số bác sỹ trên 1.000 người dân.

– Số giường bệnh trên 1.000 người dân.

– Tỷ lệ trẻ em đi học ở trường từ 6 đến 15 tuổi.

– Tỷ lệ nghèo .

– Chỉ số HDI, CPM.

– Tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ chết thô, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tổng tỷ lệ sinh.

– Số lượng phương tiện giao thông (ô tô, xe máy) trên 1.000 người dân.
– Mật độ của đô thị và các khu vực nội thành (hoặc nội thị)

Có thể bổ sung thêm:

– Chất lượng và an toàn nhà ở.

– Khả năng phát huy năng lực cá nhân và tiếp cận cơ hội.

– Tỷ lệ số hộ có tội phạm

– Nghèo ở các nhóm yếu.

– Mật độ dân số trong các khu định cư của đô thị.

– Tỷ lệ trung bình dân cư có khả năng tiếp cận “khoảng xanh” đô thị ở khoảng cách 400 mét…

4. Tài chính lành mạnh, ổn định

Khuôn khổ tài chính lành mạnh của một đô thị bền vững được thể hiện ở sự cân đối ngân sách giữa thu và chi trong điều kiện có thể của đô thị, nó thể hiện ở việc giảm ngân sách hỗ trợ của chính quyền trung ương trên cơ sở tự chủ của ngân sách địa phương. Như vậy nền tài chính lành mạnh phải là nền tài chính mang tính tự chủ cao, ít phụ thuộc. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hoá, tài chính lành mạnh của đô thị đòi hỏi các khoản đầu tư phải tập trung chủ yếu vào sản xuất, với những sản phẩm chất lượng cao trên cơ sở các nguồn tài nguyên có điều kiện cung ứng lâu dài, chứ không phải chủ yếu vào thị trường chứng khoán hay kinh doanh bất động sản. Tài chính lành mạnh không chỉ bao hàm ý nghĩa đơn thuần về mặt giá trị, mà còn thể hiện ở khả năng quản lý tài chính cũng như chiến lược tài chính của đô thị. Dân chủ, công bằng, minh bạch, chống tham nhũng và lãng phí không chỉ là những yếu tố làm nên bền vững xã hội, mà còn góp phần không nhỏ để xây dựng nền tài chính lành mạnh. Nền tài chính lành mạnh của đô thị, có thể được đánh giá bằng các chỉ tiêu dưới đây:

– Cân đối thu và chi

– Cơ cấu thu nhập xã hội dành cho tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư vào sản xuất.

– Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản.

– Tổng số nợ quá hạn hoặc số doanh nghiệp nợ quá hạn.

Việc lựa chọn những chỉ tiêu đánh giá cần bám sát vào cấu phần tạo nên nền tài chính lành mạnh, nếu không chúng ta không thấy hết những nguy cơ hay rủi ro đang tiềm ẩn. Việc xây dụng những chỉ tiêu đánh giá là rất quan trọng. Nếu xây dựng được các bộ chỉ tiêu đầy đủ, chính xác về mặt chỉ thị và không bỏ sót các giá trị nó sẽ có ý nghĩa trong việc giám sát bền vững của đô thị.  Tài chính đô thị lành mạnh phải Ổn định, được tính đúng,tính đủ chi phí dịch vụ công cộng; Thu hút khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công cộng và huy động nguồn thu ngoài thuế từ đất đai đô thị và kinh doanh bất động sản  hợp lý.

2. Đề xuất xây dựng Bộ chỉ tiêu phát triển đô thị bền vững áp dụng tại Việt nam

Với chức năng quản lý hệ thống đô thị ở cấp trung ương, Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng đã tham mưu, xây dựng nhiều văn bản luật hoá các tiêu chuẩn, tiêu chí nhằm đảm bảo yếu tố bền vững trong quá trình đô thị, tuy nhiên để các đề xuất này thực sự đáp ứng các yêu cầu quản lý phát triển hệ thống đô thị quốc gia việc xây dựng bộ tiêu chí phát triển đô thị bền vững là hết sức cần thiết. Để xây dựng được bộ tiêu chí này cần phải có sự đóng góp của chính quyền đô thị các cấp và sự vào cuộc của chuyên gia, nhà quản lý có liên quan đến vấn đề phát triển đô thị và sư tham gia của cộng đồng.

Bộ chỉ tiêu là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau theo nhiều chiều. Các chỉ tiêu: thông tin được tính toán từ số liệu thống kê thể hiện hướng thay đổi hay một trạng thái nào đó đối tượng nghiên cứu; Số liệu thống kê: toàn bộ số liệu được Tổng cục thống kê (TCTK) và các cơ quan có thẩm quyền thống kê theo định kỳ hoặc thu được qua các cuộc điều tra của trung ương và địa phương; Dữ liệu thô: toàn bộ thông tin định tính và định lượng có thể thu thập được trong lĩnh vực quan tâm.

Có hai chỉ tiêu quan trọng nhất cần đạt được là Chỉ số GDP xanh và Chỉ số phát triển con người HDI. Đây là nhóm chỉ tiêu tổng quát nhằm có các đánh giá nhanh nhất về sự tương quan giữa tăng trưởng phát triển trong đô thị với các yếu tố môi trường và con người.

GDP xanh là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đánh giá chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.GDP xanh phản ánh sự phát triển của một quốc gia một cách toàn diện bao gồm cả nội dung kinh tế và môi trường. GDP xanh là phần còn lại của GDP sau khi đã trừ đi các chi phí do xử lý chất thải từ sản xuất, tiêu dùng, chi phí tài nguyên môi trường và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế.

Chỉ số phát triển con người – HDI: là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác. Chỉ số này đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí: Sức khoẻ - một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình; Tri thức- Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học); Thu nhập – Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người.

Bên cạnh đó, Kinh tế phát triển sẽ kéo theo các nhu cầu về lao động và không gian dẫn đến sự phát triển chung của đô thị vì thế cần có nhóm chỉ tiêu về phát triển kinh tế đô thị.

Nhóm chỉ tiêu về việc làm một cách bền vững thể hiện sự đảm bảo sinh kế của đô thị và khả năng duy trì cuộc sống người dân. Chỉ tiêu này có thể tính đến cả Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập - Gini: Dùng để biểu thị độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập).

Nhóm chỉ tiêu về trình độ dân trí và nguồn lực phát triển góp phần đánh giá chất lượng dân số và mặt bằng chung mức sống của người dân trong đô thị. Sự hợp lý trong các chỉ số này và sự biến thiên của các chỉ số này qua hàng năm sẽ phản ánh hiệu quả của các chính sách áp dụng tại khu vực đô thị.

Trình độ quản lý phát triển đô thị bền vững cho thấy năng lực của các cấp quản lý và khả năng điều hành đô thị được lượng hóa.

Nhóm chỉ tiêu về Dịch vụ đô thị, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, Cơ sở hạ tầng xã hội sẽ phản ánh mức độ đầy đủ, ổn định và đáp ứng yêu cầu cuộc sống ngày càng cao của cư dân, góp phần đảm bảo sự hài long của người dân với các dịch vụ mà đô thị có thể cung cấp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhóm chỉ tiêu về Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác qui hoạch, phát triển và quản lý đô thị sẽ thể hiện tính dân chủ, sự tương tác giữa các cấp quản lý và người dân, đảm bảo sự đồng thuận của người dân trong các quy định phát triển.

Bảo vệ môi trường đô thị theo hướng bền vững là một chỉ tiêu ngày càng quan trọng và có vai trò thiết yếu trong các quyết định đầu tư phát triển đô thị cũng như lựa chọn nơi định cư lâu dài, ổn định. Nhóm chỉ tiêu này sẽ đánh giá mức độ tác động đến các nguồn tài nguyên tự nhiên trong bối cảnh phát triển đô thị nhằm đưa ra các cảnh báo và điều chỉnh phù hợp trong trường hợp đô thị phát triển làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng trong tương lai của môi trường đô thị.

Lĩnh vực thể chế là lĩnh vực đòi hỏi sự thống nhất của các nhà quản lý từ cấp trung ương đến địa phương nhằm xây dựng các chính sách phù hợp nhất hỗ trợ tối đa cho sự phát triển đô thị trong toàn quốc, theo vùng miền và đối với từng đô thị cụ thể.

Từ các lý luận trên, có thể tóm lược đề xuất về Bộ chỉ tiêu phát triển đô thị bền vững dự kiến có thể áp dụng chung tại Việt Nam như sau:

Thực hiện Đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013-2020” đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2623/QĐ-TTg. Hiện nay, Cục Phát triển đô thị đang phối hợp với Quỹ châu Á và Viện Nghiên cứu chuyển đổi môi trường và xã hội triển khai Dự án xây dựng bộ chỉ số đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Dự án Xây dựng bộ chỉ số đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu tại Việt Nam là một trong những nội dung đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, chống chịu tốt hơn với các cú sốc và áp lực từ biến đổi khí hậu gây ra. Bộ chỉ số đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu tại Việt Nam sau đó sẽ trở thành bộ công cụ kiểm soát, đồng thời hỗ trợ các đô thị đánh giá khả năng chống chịu với rủi ro từ thiên tai và biến đối khí hậu

3. Kết luận 
Đô thị hóa và phát triển đô thị là 2 vấn đề của một hiện tượng phát triển xã hội ngày nay. Một quốc gia xây dựng được hệ thống các tiêu chí bền vững sẽ có đủ công cụ để kiểm soát sự phát triển, tăng cường khả năng ứng phó và chống chịu với và thích ứng tốt với những biến động và các vấn đề phát sinh trong điều kiện KT-XH và môi trường hiện nay.
Việc suy nghĩ, định hướng và xây dựng thành công Bộ chỉ tiêu phát triển đô thị bền vững áp dụng tại Việt nam sẽ có vai trò quan trọng trong công tác định hướng, đưa ra các chỉ tiêu so sánh, các đánh giá phù hợp cho các nhà quản lý đô thị, các nhà đầu tư và người dân đô thị trong việc lựa chọn điểm đến của mình.
Bộ Chỉ số về đô thị bền vững nếu được áp dụng vào thực tế cũng sẽ góp phần giải quyết một vấn đề quan trọng trong tổ chức môi trường ở đô thị là các lãnh đạo đô thị phải có ý thức xây dựng kế hoạch từng bước cải tạo và xóa bỏ các khu ổ chuột và khu ở kém tiện nghi tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn. Tức là không chỉ tập trung phát triển những khu đô thị mới, hiện đại, văn minh mà các đô thị còn cần phải tập trung khắc phục những điểm yếu kém để nâng cấp đồng bộ đời sống cư dân đô thị.

Bộ chỉ số này cũng sẽ có vai trò quan trọng trong việc phát triển đô thị hợp lý, phân bố hài hóa nhằm tránh tình trạng tập trung quá tải vào các đô thị lớn, góp phần xóa bỏ dần sự cách biệt giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn, chúng ta phải có cách nhìn tổng quan mỗi đô thị trong một hệ thống các chỉ tiêu được liên kết chặt chẽ với nhau và từ đó có thể đánh giá đúng mức độ phát triển đô thị theo vùng lãnh thổ và cao hơn có thể là trên phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên để hoạch định được Bộ Chỉ số này một cách hợp lý, đồng bộ với nghiên cứu tổng thể phát triển bền vững KTXH. Phải xây dựng chiến lược liên ngành giữa khai thác tài nguyên nhân lực, phát triển kinh tế và phân bố dân cư. Phải xây dựng nguồn lực tương xứng cho công tác bảo vệ môi trường đi liền với tổ chức bộ máy quản lý hành chính ở các tỉnh-thành về công tác này. Phải tăng cường nhận thức ở các cấp lãnh đạo tỉnh-thành về công tác bảo vệ môi trường đô thị và có ý thức trách nhiệm chung khi phải giải quyết vấn đề này có liên quan đến quyền lợi của toàn vùng lãnh thổ hay giữa các tỉnh-thành với nhau.

Qua bài viết này, Nhóm nghiên cứu mong muốn giới thiệu đến một số khái niệm để từng bước xây dựng thành công “Bộ chỉ số tiêu chí phát triển bền vững cho các đô thị Việt Nam” từ đó luật hoá các tiêu chuẩn, tiêu chí nhằm đảm bảo yếu tố bền vững trong quá trình đô thị. Để các đề xuất này thực sự đáp ứng các yêu cầu phát triển ngày càng đa dạng thì cần phải có sự tham gia của cộng đồng, sự đóng góp của chính quyền đô thị các cấp và sự vào cuộc của các nhà quản lý có liên quan đến vấn đề phát triển đô thị vì thế chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của các nhà quản lý, các học giả và cộng đồng dân cư đô thị để tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu này tốt hơn nữa./.

Tài liệu Tham khảo:
Chương trình nghị sự 21: Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam,2004 ;
Dự án nghiên cứu phân tích những tác động của chính sách đô thị hoá đối với sự phát triển bền vững đất nước, chương trình nghị sự 21- Dự án VIE.01.21, báo cáo giữa kỳ, 8/2005;
Thông tư số 108/2003/TT-BTC ngày 07/11/2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án vệ sinh môi trường sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
Biện soan tiêu chuẩn xây dựng thiết kế quy hoạch cây xanh đô thị, Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Hà nội tháng 11 năm 2004;
Quyết định của chính phủ phê duyệt định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến 2020,Thủ tướng Chính phủ , ngày 23 tháng 1 năm 1998;
Soát xét quy chuẩn xây dựng Việt Nam về quy hoạch xây dựng, Viện Quy hoạch đô thị nông thôn, Hà nội tháng 4 năm 2005; 
Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững của Trung quốc, tài liệu tham khảo , Hà nội tháng 10 năm 2003;
Nâng cao điều kiện sống cộng đồng dân nghèo đô thị, hướng tới những đô thị Việt nam phát triển bền vững, tài liệu Nâng cấp các cộng đồng đô thị-tài liệu dành cho các nhà thực thi, Ngân hàng thế giới và SIGUS-MIT,2004.
 

(Nguồn:TS.KTS.Trần Thị Lan Anh - Tạp chí quy hoạch (Số 81))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website