Nhận thức và hành động

Nhận thức lại về phát triển bền vững Ngày hôm nay, khái niệm “Phát triển bền vững” được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế bền vững, văn hoá bền vững, nông nghiệp bền vững, giá đình bền vững, xã hội bền vững,giảm nghèo bền vững, trong đó có đô thị bền vững.

Việc đưa khái niệm này vào rất nhiều các lĩnh vực khác nhau cho thấy một nhu cầu mới trong nhận thức và hành động cho phát triển, nhưng mặt khác cũng cho thấy việc sử dụng khái niệm này có phần lạm dụng đã vượt quá xa so với nghĩa nguyên thuỷ của nó, trong nhiều trường hợp đã làm cho lý thuyết trở nên rối rắm, khó định hình, hệ quả là người làm công tác nghiên cứu, người ra chính sách, người thực hiện không sao định hướng được.  

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Đến năm 1987 trong báo cáo có tên là Our Common Future của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới có ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..." (Development that meets the needs of the present without compromising the ability of future generations to meet their own needs). Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các quốc gia về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững còn gọi là Hội nghị Rio +10 nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi với sự có mặt của các nguyên thủ của gần 200 quốc gia đã cùng nhau vạch kế hoạch hành động về phát triển bền liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sinh thái. 

Nếu như xem xét thật kỹ lưỡng thì xuất phát ban đầu của khái niệm phát triển bền vững là từ môi trường với nội dung bàn thảo là khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm sao mà không chỉ thoả mãn cho thế hệ ngày hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau. Vậy từ thông điệp gốc này, chúng ta nhận thức gì quan trọng nhất cho phát triển đô thị. Việc phát triển đô thị cần phải sử dụng hiệu quả và tiết kiệm đất, nước và năng lượng.

  • Đất là tài nguyên có hạn, người gia tăng, nhưng đất không tăng thêm. Khi phát trển thêm một thành phố mới hay mở rộng ra diện tích một thành phố cần phải tính toán sao cho đủ dùng, tương tự việc xây dựng một công trình cũng không phải cứ cao to là tốt mà vấn đề là ở chỗ đủ cho “con người hôm nay” mà không phí phạm, chiếm dụng của người mai sau. Các thành phố, thị trấn, các khu công nghiệp thường bao giờ cũng chiếm vị trí đẹp nhất, tốt nhất ở nơi bằng phẳng, gần sông, gần biển, thành phố càng lớn, càng nhiều thì quĩ đất dành cho canh tác và dành cho con cháu mai sau càng ít đi. Ai đó nói hôm nay là thành phố, mai sau không cần thì bỏ đi. Điều đó không đơn giản như thế, bởi một nơi đã là khu công nghiệp thì không thể nào “hoàn thổ” được do đất đã bị hỏng bởi các loại hoá chất, dầu mỡ ngấm xuống tầng sâu. Một thành phố hàng trăm, hàng nghìn km vuông bị bê tong hoá bề mặt, bị phủ lên bởi hàng tỷ mét khối vật liệu xây dựng đã chết như nhựa đường, bê tông, sắt  thép, kính, nhôm định hình,… Một làng xóm bị tàn phá sẽ dễ dàng hồi sinh, một thành phố hoang phế không dễ gì làm lại, đơn giản nhất là dọn dẹp cũng khó. Các nhà khoa học tính toán với tốc độ đô thị hoá nhanh như hiện hay thì chỉ sau 150 năm nữa quĩ đất tốt khai thác được của các nước đang phát triển sẽ hết, chỉ còn lại đất núi cao, sa mạc. Việt Nam hiện nay có 360 khu công nghiệp, hàng năm số khu công nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng, cho dù chỉ mới lấp đầy trung bình 57%. Sau mươi năm nữa, khi mà Việt Nam không còn công nghiệp thô (sử dụng mặt bằng lớn, thâm dụng nhân công tay nghề thấp, sử dụng công nghệ lạc hậu) mà chuyển sang công nghệ -kỹ thuật cao thì hàng triệu ha đất công nghiệp sẽ làm gì là một câu hỏi không dễ trả lời. Do vậy phát triển đô thị bền vững đầu tiên và quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm đất, nếu phí phạm thì quả là có tội với con cháu.
  • Nước là tài nguyên có hạn, cho dù nước che phủ 70% diện tích bề mặt của trái đất, nhưng chỉ có 0,3% là sử dụng được cho sinh hoạt. Nước sạch ngày càng khan hiếm vì nhiều lý do khác nhau, nhưng có một lý do không phủ nhận được là các thành phố là nơi sử dụng nhiều nước nhất và phí phạm nhất cho sản xuất và sinh hoạt. Nói cho cùng thì các thành phố hoành tráng trên bề mặt trái đất chính là nguyên nhân huỷ hoại, tàn phá đến khánh kiệt môi trường tự nhiên. Tất cả các dòng sông bị biến dạng do các đập thuỷ điện chỉ để cung cấp năng lượng chủ yếu cho thành phố, các cánh rừng nguyên sinh biến mất chỉ để cung cấp gỗ cho dân thành thị, các núi đá bị san phẳng để làm vật liệu xây dựng cho các thành phố làm đường, xây nhà,…Nhiều thành phố đang bị lún sụt do khai thác nươc ngầm quá mức như Mexico City, Sau paolo của Brazin, các thành phố ở Đông Bắc Trung Quốc, quận Bình Thạnh của TP.HCM là một trong số các ví dụ minh chứng cho sự tiêu thụ tài nguyên quá mức của đô thị. 

Một vài ví dụ trên đây cho thấy, các quốc gia trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các nước đang phát triển đã đẩy đô thị hoá với qui mô quá lớn và tốc độ quá nhanh. Việc phát triển các thành phố không tính toán có nguy cơ huỷ hoại tài nguyên mối trường rất cao và sử dụng lãng phí tài nguyên, như thế “của để dành” cho thế sau không những không còn bao nhiêu mà có thể tệ hơn nữa là để lại cho con cháu những thứ phế thải mà không biết dọn đi đâu. Đó không chỉ là một viễn cảnh mà là một thực tế.

Hành động cho phát triển bền vững
Lâu nay khi nói về phát triển bền vững các lý thuyết gia thường hình dung ra phát triển bền vững là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa ba lĩnh vực: kinh tế-môi trường-xã hội. Họ cho rằng nó như 3 đỉnh của một tam giác cân, làm sao giữ cho 3 đỉnh này luôn cân bằng nhau, không bị xô lệch. Về lý thuyết thì có vẻ chấp nhận được nhưng thực tế thì không phải như vậy, bởi thực tế không thể giữ cho được ba lĩnh vực này luôn cân bằng nhau mọi lúc, mọi nơi mà tuỳ theo từng giai đoạn sẽ có những lĩnh vực này được ưu tiên phát triển nhiều hơn, lĩnh vực khác phải tạm thời lui xuống.

Chẳng hạn khi đất nước quá nghèo, thiếu ăn, năng xuất thấp thì rõ rang tăng trưởng kinh tế sẽ được ưu tiên nhiều hơn. Cần phải đầu tư nhiều hơn, và cố nhiên sẽ phải sử dụng tài nguyên nhiều hơn cho tăng trưởng, chỉ khi tăng trưởng tốt thì mới xoá đói giảm nghèo. Ngược lại ở những quốc gia phát triển cao như Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch thì vấn đề tăng trưởng kinh tế và môi trường không phải là đòi hỏi ưu tiên mà lại là vấn đề văn hoá. Chúng ta không nên ảo tưởng là phát triển bền vững sẽ không gây hại cho nhau. Phát triển kinh tế chắc chắn sẽ làm tổn hại đến môi trường và ô nhiểm môi trường, kinh tế phát triển sẽ dẫn đến bất bình đẳng xã hội, làm phân hoá giàu nghèo; Đạo đức xã hội bị suy thoái nhất định sẽ kéo kinh tế chậm lại,… chỉ có điều làm sao tất cả những hệ lụy đó đảm bảo được kiểm soát để hạn chế đến mức thấp nhất có thể. 

Thêm vào nữa là ở chỗ muốn ưu tiên như thế nào thì phải giữ cho được được hai nguyên tắc chính của phát triển bền vững: thứ nhất là phát triển không nảy sinh xung đột để làm triệt tiêu lẫn nhau giữa kinh tế-môi trường và xã hội. Tăng trưởng kinh tế nhanh đến mức gây ra xung đột dân tộc và tôn giáo là điều không chấp nhận được. Thứ hai là phát triển kiểu gì cũng phải đảm bảo sự tự phục hồi, tự tái tạo của tự nhiên và xã hội. Tự nhiên, xã hội và con người có một qui luật là mọi sự mất đi (sử dụng, tiêu hao chủ động hay bị động) trong ngưỡng sẽ được tự bù đắp trở lại tương đương hoặc lớn hơn, một khi khác thác nhiều hơn khả năng tự tái tạo sẽ dẫn đến huỷ diệt. Xưa kia rừng Tây Nguyên được bảo tồn nguyên trạng vì bà con các cộng đồng dân tộc ít người đã tôn trọng qui luật này. Họ đốt một khoảng rừng chừng 4-5 ha cho canh tác ngô lúa, sau vài mùa khi đất kiệt họ lại di chuyển sang chỗ khác, và sau khoảng 10 năm rừng lại lần lượt xanh tốt trở lại, cách du canh du cư như thế xem ra rất khoa học, còn ngày nay rừng Tây Nguyên đại ngàn không còn nữa là do khái thác kiểu tận diệt và với tốc độ quá nhanh.

Kết luận:
Bắt đầu từ Thế kỷ 21, nhân loại chính thức bước vào thời đại của đô thị, năm 2014 có 61% dân số đang sống trong đô thị, và đến cuối TK này sẽ có hơn 80% dân số đô thị. Các đại đô thị có hơn 10 triệu người sẽ trở nên phổ biến. Do vậy việc phát triển của các đô thị sẽ quyết định vận mệnh của nhân loại. Nhân loại sẽ đi dần đến chỗ diệt vong vì hết tài nguyên hay tìm ra một cách phát triển khác hoàn toàn phụ thuộc vào đô thị. Chính vì thế phát triển bền vững cho đô thị luôn là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu.

Tài liệu tham khảo.
Nguyên Ngọc. Các bạn của tôi trên ấy. NXB Trẻ, 2013
Nguyễn Minh Hoà. Đô Thị Học. NXB Đai học Quốc gia TP.HCM, 20112
IACSC. Urban Sustainable Development: opportunities and Challenges. VNU-HCMC Publishing House. 2015.
 

(Nguồn:PGS.TS. Nguyễn Minh Hoà - Tạp chí quy hoạch (Sô 81))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website