Đổi mới công tác QHHT HTKT trong hệ thống QHĐT tại Việt Nam

Hệ thống hạ tẩng kỹ thuật (HTKT) đô thị là một trong những nhân tố quyết định đảm bảo cho sự hình thành và phát triển đô thị, hệ thống HTKT đô thị được quy hoạch, xây dựng và vận hành tốt không chỉ góp phần nâng cao điều kiện sống của người dân đô thị mà còn góp phần thúc đầy sự phát triển kinh tế đô thị, tạo ra sự phồn vinh cho đô thị và hướng đô thị đến sự phát triển bền vững.

Công tác quy hoạch HTKT trong quy hoạch đô thị đã được quan tâm và có những thành tựu ban đầu, tuy nhiên trước những thay đổi ngày càng khó lường trước của sự phát triển kinh tế cũng như những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến những điều kiện tự nhiên và môi trường của đô thị, các giải pháp HTKT đô thị phải nhanh chóng được triển khai, đồng thời cũng phải linh hoạt hơn nhằm thích ứng với mọi biến động của kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên. Chính vì vậy cần phải có sự đổi mới công tác quy hoạch HTKT trong hệ thống quy oạch đô thị tại Việt Nam nhằm rút ngắn thời gian triển khai các giải pháp thiết kế, thu hút được mọi nguồn lực xã hội, sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan nhằm đưa ra các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt cho hệ thống HTKT đô thị.

Trong toàn bộ lịch sử phát triển đô thị, từ khi bắt đầu hình thành những đô thị đầu tiên trên thế giới đến nay, gắn liền với sự phát triển của các đô thị chính là sự phát triển của hệ thống HTKT đô thị. Hệ thống HTKT đô thị là nhân tố góp phần tạo ra sự phồn vinh của đô thị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đô thị, đảm bảo điều kiện sống cho người dân đô thị và giải quyết các vấn đề môi trường do sự phát triển đô thị tạo ra. Ngày nay, hệ thống HTKT đô thịchínhlà nhân tố quyết định mang đến tính hấp dẫn của dự án phát triển đô thị mới và là cũng nhà nguyên nhân đẫn đến các vấn đề kinh tế - xã hội – môi trường đô thị đối với các khu vực đô thị hiện hữu đang phải đối mặt với thực trạng hạ tầng thấp kém, ùn tắc giao thông, úng ngập và ô nhiễm thường xuyên. Chính vì vậy việc xây dựng hệ thống HTKT đồng bộ, hiện đại và hướng tới sự phát triển bền vững và đặc biệt việc nâng cao chất lượng hệ thống HTKTcó tầm quan trọng và ý nghĩa cao trong việc thúc đẩy phát triển chung của đô thị.

Hệ thống HTKT đô thị có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau và đòi hỏi tính đồng bộ cao từ tổng thể đến chi tiết, từ công trình đầu mối đến các tuyến, từ các tuyến chính đến các tuyến nhánh, từ tuyến nhánh đến hộ tiêu dùng và sự vận hành không tốt của một công trình sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành của toàn hệ thống.Mặc dù đã được định hướng tính hệ thống ở quy hoạch chung, tuy nhiên do với tỷ lệ bản đồ nhỏ và yêu cầu trong đồ án quy hoạch chung đi sâu vào việc thiết kế các tuyến HTKT với các thông số kỹ thuật khá chi tiết nên trong thực tế các đồ án cấp dưới với tỷ lệ bản đồ lớn hơn thường phải điều chỉnh các nội dung này cho phù hợp, vì vậyở xét ở cấp độ quy hoạch chi tiết và đôi khi là cả quy hoạch phân khu, việc các quy hoạchnày được nghiên cứu riêng rẽ kể cả về chủ thể nghiên cứu, quản lý cũng như thời điểm nghiên cứu đã làm mất đi tính hệ thống của các công trình HTKT, dẫn đến sự thiếu đồng bộ của hệ thống HTKT đô thị. Cho dù bên cạnh hệ thống quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết có các quy hoạch chuyên ngành (thường chỉ lập cho các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I), tuy nhiên với quy định hiện nay ở tỷ lệ bản đồ không khác so với quy hoạch chung và nội dung vẫn tập trung vào thiết kế tuyến HTKT và các thông số kỹ thuật cụ thể, quy hoạch chuyên ngành vẫn chưa đủ để đảm bảo tính hệ thống mà còn càng làm cho tính thống nhất của quy hoạch có thể còn suy giảm do lĩnh vực HTKT được quản lý bởi các ngành khác nhau.

Ngoài ra, do thời gian trung bình để triển khai quy hoach từ bước quy hoạch chung đến khi có quy hoạch chi tiết được phê duyệt kéo dài tối thiểu 3-4 năm, trong khi sau khoảng 4-5 năm, các đồ án quy hoach chung đô thị lại đến chu kỳ rà soát, điều chỉnh, vì vậy các dự án luôn ở trong tình trạng chưa có quy hoạch được phê duyệt hoặc quy hoạch đang trong giai đoạn rà soát, điều chỉnh nên chính quyền địa phương thường xuyên phải sử dụng các quyết định hành chính để khắc phục tình trạng này càng làm nghiêm trọng hơn tính thiếu thống nhất của hệ thống HTKT.

Hệ thống HTKT có những yêu cầu phức tạp trong công nghệ - kỹ thuật và cả trong quản lý bởi nó bao hàm tập hợp nhiều chuyên ngành. Đồng thời, việc phân bố trên khắp không gian đô thị (trên mặt đất, trên không và dưới ngầm…) với những đối tượng phục vụ khác nhau và với thời gian phục vụ kéo dài càng làm tăng tính phức tạp cũng như thể hiện rõ tính không gian – thời gian của hệ thống HTKT đô thị. Các dự báo để lựa chọn phương án thiết kế hệ thống HTKT không thể có chính xác tuyệt đối, các dự báo quá thấp sẽ nhanh chóng bị lạc hậu, không đáp ứng nhu cầu thực tế, các dự báo quá cao sẽ gây lãng phí nguồn lực. Trong khi đó, theo quy đinh của hệ thống Luật quy hoạch đô thị, thành phần, nội dung hồ sơ đồ án quy hoạch đã được quy định rất chi tiết với các thông số kỹ thuật cụ thể theo tỷ lệ bản vẽ thể hiện ứng với mỗi cấp quy hoạch nhưng lại không có sự kết nối từ mức độ nghiên cứu tổng thể đến mức độ nghiên cứu chi tiết nhưng do khả năng tài chính, sự biến động của nền kinh tế và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các thông số tính toán thường xuyên bị lạc hậu dẫn đến phải điều chỉnh cho phù hợp vừa làm mất hiệu lực của quy hoạch vừa dẫn đến sự thiếu đồng bộ, thống nhất gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định trong quá trình quản lý đô thị theo quy hoạch.

Bên cạnh đó, các khái niệm mới trong quá trình phát triển hệ thống HTKT đô thị như hạ tầng bền vững, hạ tầng xanh, tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác quy hoạch được nhắc tới như là yếu tố then chốt để giải quyết các xung đột nội tại khi triển khai quy hoạch và xây dựng đô thị. Đồng thời, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng trở nên trầm trọng hơn, vì vậy các giải pháp thích nghi, ứng phó trước tác động khó lường của BĐKH luôn phải được tính đến khi đưa ra các quyết sách về phát triển đô thị.Để góp phần tạo nên một hệ thống HTKT đô thị vận hành tốt, phù hợp với các điều kiện địa phương, cho dù các công tác như đầu tư xây dựng, quản lý vận hành là rất quan trọng, tuy nhiên việc xây dựng được định hướng quy hoạch hệ thống HTKT đô thị cũng như việc quan tâm mạnh mẽ đến công tác quản lý theo định hướng quy hoạch đã được xây dựng là yếu tố then chốt, đây chính là nội dung của công tác lập quy hoạch và quản lý việc thực hiện theo đồ án quy hoạch đô thị trong lĩnh vực HTKT.

Ngoài ra, hồ sơ quy hoạch dùng cho công tác quản lý đô thị chủ yếu là hồ sơ in trên giấy, hoặc là các bản vẽ được số hóa bằng phần mềm AutoCad và các phần mềm diễn họa khác, nên những thông tin đi kèm với các đối tượng không gian (đặc biệt là hệ thống HTKT) thường đơn giản và không có khả năng cập nhật liên tục theo thời gian. Do vậy, công tác quản lý dữ liệu ngành hiện tại chưa đạt hiệu quả cao, việc cập nhật, theo dõi các hoạt động, tra cứu thông tin khi cần thiết là một vấn đề khó khăn.

Hệ thống HTKT đô thị yêu cầu khoản kinh phí lớn cho đầu tư xây dựng, vận hành, duy tu, bảo dưỡng nhưng khả năng thu hồi vốn thấp và lâu dài. Đầu tư hệ thống HTKT đô thị là đầu tư cho phát triển, luôn đòi hỏi phải đi trước một bước với nguồn vốn chiếm tỷ trọng từ 20-30% tổng ngân sách và tính hấp dẫn đầu tư hạn chế. Việc đầu tư cho HTKT cần cân nhắc về thời cơ, thời điểm, vị trí, đảm bảo tiết kiệm kinh phí cho việc cải tạo, thay đổi sau này. Hệ thống HTKT đô thị luôn phải được đầu tư trước trong quá trình phát triển đô thị để đáp ứng các nhu cầu chung của xã hội, nguồn vốn đầu tư thường lớn và không phải công trình HTKT đô thị nào cũng có tính hấp dẫn đầu tư, trong khi đó nguồn vốn ngân sách không phải là luôn luôn đầy đủ, đặc biệt là tại các đô thị nhỏ. Chính vì vậy bên cạnh việc kêu gọi đầu tư nước ngoài, cần huy động nguồn lực từ tư nhân và các thành phần kinh tế “phi chính thức” cho việc đầu tư xây dựng hệ thống HTKT đô thị. Việc huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi ngay từ khâu lập quy hoạch, các “nhà đầu tư” được tham gia thảo luận về các phương án, giải pháp quy hoạch. Mặc dù vậy, tuy trong quy trình tổ chức lập quy hoạch có nhiều bước xin ý kiến nhưng đối tượng các doanh nghiệp tư nhân và các thành phần kinh tế “phi chính thức” chưa được quan tâm.

Hệ thống HTKT đô thị là một loại hình dịch vụ công cộng phục vụ đa dạng đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội và cũng giải quyết các vấn đề mang tính xã hội của toàn đô thị và cộng đồng dân cư chính là đối tượng thụ hưởng chính và quan trọng nhất hệ thống HTKT. Chính vì vậy, việc tham vấn cộng đồng là rất quan trọng và đã được quy định trong quá trình lập quy hoạch. Mặc dù vậy, trong thực tế việc lấy ý kiến cộng đồng chưa thực sự hiệu quả,nhiều khi bước lấy ý kiến chỉ mang tính thủ tục mà chưa xem xét đến những vấn đề như: thông tin lấy ý kiến có phù hợp với trình độ nhận thức của các nhóm cộng đồng khác nhau, có sự cân bằng lợi ích giữa các các nhóm cộng đồng khác nhau và giữa cộng đồng với chính quyền và các bên liên quan khác, mục tiêu lấy ý kiến trong từng giai đoạn của công tác quy hoạch có phù hợp không.

Chính vì vậy, cần phải có những đổi mới về quy trình, nội dung quy hoạch HTKT đô thị cho phù hợp với thực tế phát triển đô thị Việt Nam, đặc điểm của hệ thống HTKT và ứng dụng có chọn lọc các lý thuyết, các công nghệ mới đối với hệ thống HTKT nhằm đảm bảo hiệu quả thực tế của công tác quy hoạch, huy động được nguồn lực và sự tham gia của toàn xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu. Các nội dung đề xuất đổi mới cụ thể như sau:

  1. Giảm bớt các loại hình đồ án quy hoạch, các khâu chuẩn bị lập quy hoạch và nội dung quy hoạch HTKT để rút ngắn thời gian, giảm nguồn lực cho công tác quy hoạch nhưng vẫn đảm bảo: tính thống nhất theo hướng tích hợp đa ngành, sự độc lập trong quá trình triển khai dự án và sự linh hoạt cho các nhà quản lý khi ra quyết định.

Để vừa rút ngắn thời gian quy hoạch vừa đảm bảo tính thống nhất của hệ thống HTKT, đề xuất nội dung quy hoạch HTKT trong hệ thống quy hoạch đô thị bao gồm (nhưng không giới hạn) ở 2 mức như sau: mức thứ nhất là việc tích hợp quy hoạch HTKT đô thị trong đồ án quy hoạch chung đô thị; mức thứ hai là quy hoạch chi tiết khung HTKT theo từng chuyên ngành HTKT gắn với quá trình lập dự án đầu tư xây dựng từng hệ thống HTKT khung của đô thị.

Toàn bộ các nội dung, các thành phần của hệ thống HTKT đều phải được nghiên cứu trong quy hoạch chung đô thị nhưng những vấn đề được quy định (có tính pháp quy) trong đồ án quy hoạch phải được lựa chọn để đảm bảo cho sự linh hoạt khi đưa ra quyết định của nhà quản lý. Quy hoạch đô thị phục vụ quản lý nhà nước nên xây dựng phương án khung nhằm đưa ra các giới hạn ứng với các kịch bản phát triển trần và sàn của đô thị từ đó xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết sách cho các nhà quản lý có tính đến toàn bộ các lĩnh vực HTKT và linh hoạt theo thực tế phát triển đô thị đặc biệt là trong điều kiện tác động khó lường của sự phát triển kinh tế và ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu đến đô thị. Trong đó các vấn đề HTKT chính cần phải quy định thống nhất là các công trình đầu mối đa năng, các hành lang tuyến có tính đến việc sử dụng chung của các lĩnh vực HTKT khác nhau và khung giải pháp HTKT cho các phân vùng đô thị để làm đầu bài cho từng lĩnh vực hạ tầng thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.

Khi có nhu cầu đầu tư xây dựng hệ thống HTKT khung theo một chuyên ngành cụ thể, nhà quản lý sẽ triển khai lập quy hoạch chi tiết chuyên ngành HTKT gắn với dự án đầu tư xây dựng hệ thống HTKT cụ thể, trong đó sẽ tính toán chi tiết các thông số kỹ thuật của hệ thống hạ tầng khung, công trình đầu mối và đề xuất các giải pháp kỹ thuật chi tiết cho từng phân vùng đô thị bao gồm mạng lưới, công trình trên mạng lưới và thông số kỹ thuật cơ bản dựa trên các số liệu khảo sát chi tiết và bản đồ với tỷ lệ lớn hơn phù hợp để xác định các thông số kỹ thuật và tương ứng với dự kiến thực tế công tác đầu tư xây dựng đối với chuyên ngành HTKT.

Trong các bước sau quy hoạch chung của công tác quy hoạch đô thị, về cơ bản không yêu cầu phải có nội dung quy hoạch HTKT (trừ nội dung HTKT về giao thông), tuy nhiên không có nghĩa là không được phép nghiên cứu về HTKT. Tại các bước sau quy hoạch chung của công tác quy hoạch đô thị, các quy định về khung công trình, khung giải pháp HTKT đã được xác định tại Quy hoạch chung đô thị phải được lồng ghép vào trong các giải pháp không gian, sử dụng đất đai. Bên cạnh đó, nếu quy hoạch chi tiết chuyên ngành HTKT đã được thực hiện thì các công trình, giải pháp chuyên ngành HTKT chi tiết cũng phải được lồng ghép vào giải pháp không gian, sử dụng đất và ngược lại trường hợp quy hoạch chi tiết chuyên ngành HTKT chưa được thực hiện thì bước trung gian của quy hoạch đô thị sẽ đưa ra một số khống chế bổ sung cho quy hoạch chi tiết chuyên ngành HTKT dựa trên các định hướng không gian, sử dụng đất.

  1. Lồng ghép các lý thuyết, các khái niệm, các giải pháp mới về HTKT vào trong giai đoạn quy hoạch theo hướng sử dụng hài hòa các giải pháp cứng và giải pháp mềm nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý linh hoạt, thích ứng với biến động của kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Việc lồng ghép quan điểm hạ tầng xanh và thích ứng với biển đổi khí hậu phải được thể chế hóa trong các văn bản pháp quy để tạo cơ chế và tính bắt buộc đối với quía trình lập quy hoạch đô thị, đặc biệt là ở bước quy hoạch chung đô thị. Công tác lồng ghép phải bắt đầu ngày từ khi nghiên cứu, lập nhiệm vụ quy hoạch đến các bước chi tiết của công tác quy hoạch đô thị cả trong quy hoạch chung đô thị và quy hoạch chuyên ngành HTKT. Hướng tiếp cận phát triển hạ tầng xanh trong đô thị và đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu chính là việc đưa ra các giải pháp linh hoạt kết hợp giải pháp cứng, giải pháp công trình với các giải pháp mềm, giải pháp thích ứng với việc tôn trọng và sử dụng yếu tố tự nhiên vào các công đoạn hoạt động của hệ thống HTKT đô thị.

Đối với giai đoạn quy hoạch chung đô thị ngay từ khâu lập nhiệm vụ phải lồng ghép các mục tiêu chiến lược về phát triển HTKT theo định hướng hạ tầng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở các nguyên tắc phát triển hạ tầng xanh của quốc gia, của địa phương, kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia và định hướng công tác ứng phó biến đổi khí hậu của ngành xây dựng, của địa phương. Ở giai đoạn điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng phải lồng ghép các điều tra khảo sát về đặc điểm điều kiện tự nhiên của khu vực và khả năng đưa các yếu tố tự nhiên vào hệ thống hạ tầng xanh, đánh giá nguy cơ từ biến đổi khí hậu và khả năng bị tổn thương của tự nhiên và hệ thống HTKT trước các nguy cơ từ biến đổi khí hậu. Đi cùng với việc đưa ra tầm nhìn, tính chất và các chiến lược phát triển đô thị là việc đánh giá sự sẵn sàng sử dụng các giải pháp hạ tầng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu của đô thị dựa trên với các nguyên tắc quy hoạch hệ thống hạ tầng xanh và cách tiếp cận của các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Căn cứ vào khâu đánh giá hiện trạng và chiến lược phát triển đô thị để xây dựng nên hệ thống các tiêu chí về quy hoạch hệ thống HTKT xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho các giai đoạn quy hoạch tiếp theo. Trong giai đoạn xây dựng ý tưởngquy hoạch, bên cạnh việc xây dựng các tiêu chí HTKT xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu là việc xác định chuỗi giải pháp và các thành phần của hệ thống HTKT xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu để căn cứ vào đó đưa ra giải pháp tối ưu nhất cho chuỗi giải pháp, công trình HTKT. Cuối cùng ở giai đoạn đưa ra giải pháp quy hoạch đô thị là việc lồng ghép các thiết kế quy hoạch khung HTKT theo hướng hạ tầng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu dựa trên các đánh giá môi trường chiến lược và phân tích lợi ích – chí phí cho các phương án quy hoạch HTKT được đưa ra.

Đối với quy hoạch chuyên ngành HTKT gắn với dự án đầu tư xây dựng cũng phải có bước lồng ghép các giải pháp hạ tầng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, ở giai đoạn này đi kèm với các giải pháp quy hoạch và thiết kế các công trình hạ tầng cụ thể, phải gắn với việc đưa ra các tính toán kiểm tra để xác định tính khả thi của các phương án kỹ thuật có tính đến việc áp dụng hạ tầng xanh và khả năng ứng phó với những biến động do tác động của biến đổi khí hậu gây ra đối với đô thị và khả năng đáp ứng của hệ thống HTKT đô thị. Đặc biệt là phải có đánh giá những rủi ro do việc áp dụng giải pháp HTKT theo hướng hạ tầng xanh từ đó có những điều chỉnh các thông số kỹ thuật của hệ thống HTKT cho phù hợp bao gồm cả những rủi ro trong quá trình thi công cũng như quá trình vận hành hệ thống HTKT đô thị.

  1. Nâng cao hiệu quả sử dụng sản phẩm quy hoạch, ứng dụng công nghệ GIS trong lập và quản lý theo đồ án quy hoạch.

Cần tách hệ thống sản phẩm hiện nay thành 02 nhóm riêng biệt: nhóm sản phẩm kết quả nghiên cứu khoa học và nhóm sản phẩm phục vụ công tác quản lý nhà nước. Các sản phẩm nghiên cứu khoa học sẽ là bộ hồ sơ đầy đủ các nội dung nhưng sẽ chỉ là tài liệu tham khảo cho công tác quản lý, còn kèm theo quyết định phê duyệt sẽ phải ban hành 01 tài liệu gồm thuyết minh và bản vẽ trong đó là các quy định, chỉ tiêu, thông số để phục vụ công tác quản lý có tính pháp lý cao (tương tự như quy định quản lý theo đồ án quy hoạch hiện nay).

Đối với phần sản phẩm nghiên cứu khoa học của đồ án quy hoạch: thành phần hồ sơ sẽ đầy đủ các chuyên ngành với các sơ đồ phân tích, lý luận và nhiều phương án thiết kế khác nhau (ứng với các kịch bản khác nhau) và không nhất thiết phải có phương án chọn. Như vậy có thể có đồng thời nhiều sản phẩm nghiên cứu khoa học cho 1 đối tượng cụ thể để làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước căn cứ để đưa ra quyết định cho từng tình huống cụ thể trong quá trình quản lý phát triển đô thị. Còn đối với sản phẩm phục vụ quản lý phải xác định rõ các nội dung quy định cứng, quy định chi tiết và các nội dung chỉ đưa ra nguyên tắc, sản phẩm phục vụ quản lý không nhất thiết phải đầy đủ các chuyên ngành mà chỉ lựa chọn các nội dung, các chuyên ngành quan trọng đối với từng đô thị để quy định. Tuy nhiên sản phẩm phục vụ quản lý lại đóng vai trò như một văn bản pháp quy với những đòi hỏi khắt khe và nghiêm ngặt trong quá trình sử dụng. Tài liệu này bắt buộc phải được cơ quan quản lý nhà nước ban hành kèm theo quyết định phê duyệt dựa trên các đề xuất của các nhà chuyên môn trong sản phẩm nghiên cứu khoa học của đồ án quy hoạch.

Xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở dữ liệu không gian để lưu trữ tài liệu quy hoạch trên cơ sở GIS nhằm đảm bảo cho việc kiểm tra, giám sát và đồng bộ hóa các hồ sơ quy hoạch trên địa bàn, đồng thời dễ dàng cho việc bổ sung, cập nhật, ngoài ra cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc công khai và tăng cường khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với hồ sơ quy hoạch. Công nghệ GIS phải được thực hiện ngay từ công tác đo đạc bản đồ nền, lập quy hoạch đến khâu cập nhật, hiệu chỉnh và phổ biến thông tin. Để đảm bảo sự đồng bộ của toàn hệ thống cần thiết phải thực hiện các nội dung sau: Xây dựng hệ thống dữ liệu bản đồ, xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin phát triển đô thị, xây dựng hệ thống thông tin về quy hoạch trên toàn quốc.

  1. Tăng cường hiệu quả sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.

Xác định rõ các bên cần lấy ý kiến trong quá trình lậpquy hoạch đô thị bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, các nhà chuyên môn, các doanh nghiệp và người dân chịu ảnh hưởng của quy hoạch đô thị. Việc lấy ý kiến cần thực hiện qua ít nhất là 02 bước với nội dung lấy ý kiến, thành phần lấy ý kiến và phương pháp lấy ý kiến khác nhau, trong đó: bước thứ nhất là lấy ý kiến về những yêu cầu mong muốn của các bên đối với đồ án quy hoạch, bước thứ hai là lấy ý kiến về phương án quy hoạch trước khi xây dựng hồ sơ thẩm định về chuyên môn để trình phê duyệt.

Tại bước thứ nhất, việc lấy ý kiến cần được xây dựng như một cuộc điều tra xã hội học nhằm thu thập được các yêu cầu, mong muốn và khả năng đáp ứng, khả năng tham gia của các bên liên quan để cơ quan tổ chức lập quy hoạch và đơn vị tư vấn lập quy hoạch dựa vào để xây dựng phương án quy hoạch. Bước này có thể kết hợp với công tác điều tra, khảo sát ban đầu, trong bước này nhân tố quan trọng nhất chính là cộng đồng dân cư, các nhà chuyên môn, tuy nhiên cũng không thể bỏ qua các đối tượng là nhà quản lý và các doanh nghiệp có tiềm năng tham gia vào quá trình đầu tư, xây dựng đô thị tương lai. Kết quả lấy ý kiến cần được công khai để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và định hướng cho các giai đoạn quy hoạch tiếp theo.

Tại bước thứ hai, việc lấy ý kiến cần được chia nhỏ theo đối tượng, mỗi đối tượng sẽ có phương pháp lấy ý kiến khác nhau: đối với các cơ quan quản lý nhà nước là các văn bản thống nhất về các nội dung quản lý chuyên ngành, đối với các nhà chuyên môn là các ý kiến phản biện thông qua hội thảo khoa học, đối với doanh nghiệp và người dân sẽ là các ý kiến tổng hợp thông qua các hội nghị bàn tròn công khai với đại điện doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Việc tiếp thu, giải trình các ý kiến phải được thể hiện trong đồ án quy hoạch và được phản hồi đến đối tượng góp ý kể cả khi không có sự thống nhất giữa các bên nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của giải pháp quy hoạch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Luật Quy hoạch đô thị - Quốc hội khóa XII, 2009
  2. Luật Xây dựng – Quốc hội khoá XIII, 2014
  3. Tài liệu điều tra, khảo sát tại các đô thị Việt Nam phục vụ đề tài Đổi mới toàn diện công tác lập quy hoạch đô thị - VIUP, 2016
  4. Các chuyên đề về kinh nghiệm quốc tế trong công tác quy hoạch đô thị phục vụ đề tài Đổi mới toàn diện công tác lập quy hoạch đô thị -VIUP, 2017
  5. Lồng ghép ứng phó tác động của biển đổi khí hậu trong lập quy hoạch đô thị ở Việt Nam – VIUP, 2013
  6. Sổ tay hướng dẫn lập quy hoạch đô thị, Dự án Xây dựng năng lực lập Quy hoạch và Quản lý đô thị CUPCUP - VIUP, 2012
(Nguồn:ThS. KS. Vũ Tuấn Vinh - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 87))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website