Quy hoạch xây dựng - Vị trí nào trong hệ thống quy hoạch quốc gia

Bài viết giới thiệu hệ thống quy hoạch của quốc gia, hiện tượng quy hoạch của các bộ, ngành đang chồng chéo và mâu thuẫn với nhau gây khó khăn khi triển khai thực hiện. Đồng thời, cũng phân tích vị trí hiện tại của quy hoạch xây dựng, đặc thù của quy hoạch xây dựng trong mối quan hệ đa ngành. Trên cơ sở đó đề xuất vị trí cần thiết cho quy hoạch xây dựng trong hệ thống các quy hoạch ngành nhằm khắc phục những bất cập như thiếu tính kết nối, thiếu đồng bộ và hệ thống, gây lãng phí trong lập và thực hiện quy hoạch xây dựng.

Quy hoạch xây dựng là công cụ pháp lý giúp nhà nước quản lý và phát triển môt cách hiệu quả đất đai và không gian. Từ trước đến nay, quy hoạch xây dựng giữ vai trò quan trọng, kết nối quy hoạch các ngành và cụ thể hóa quy hoạch kinh tế xã hội. Đây là quy hoạch duy nhất làm cho đất nước phát triển hợp lý về kinh tế, không gian kiến trúc cảnh quan và môi trường. Hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng hiện nay bao gồm 4 loại: Quy hoạch xây dựng vùng, Quy hoạch đô thị, Quy hoạch khu chức năng đặc thù, Quy hoạch xây dựng nông thôn.

Để lập quy hoạch xây dựng, các chuyên gia phải dựa trên các quy hoạch khác như sau:

1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, do ngành Kế hoạch Đầu tư chịu trách nhiệm

2. Quy hoạch sử dụng đất, hay là quy hoạch sử dụng tài nguyên đất có tính “tổng thể”, “tính lâu dài” và “tính chiến lược” do ngành Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm

3. Quy hoạch bảo vệ môi trường do ngành Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm

4. Quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải… do các cơ quan chuyên ngành chịu trách nhiệm.[2]

Quy hoạch xây dựng phải hợp nhất các quy hoạch ngành nói trên để đảm bảo các đối tượng quy hoạch đáp ứng được yêu cầu của chiến lược phát triển, tạo động lực kinh tế, tạo lập xã hội hài hòa, môi trường lành mạnh, cảnh quan đẹp và có bản sắc.

Tuy nhiên trên thực tế hiện nay ngoài quy hoạch xây dựng mang tính tổng hợp nêu trên thì mỗi bộ, ngành đều thực hiện lập quy hoạch chuyên ngành mình. Có quy hoạch của các ngành lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch, lại có quy hoạch riêng của các chuyên ngành hẹp như quy hoạch mỏ và than, quy hoạch vật nuôi, cây trồng; quy hoạch hạ tầng kỹ thuật như quy hoạch giao thông, cấp nước, thoát nước, thủy điện,… cho mỗi vùng miền, cho mỗi vấn đề cần quy hoạch. Mỗi quy hoạch trước khi ban hành đều có một hội đồng tham gia đóng góp ý kiến đến từ cơ quan của Chính phủ, các bộ, ngành, các hội nghề nghiệp và các cơ quan địa phương. Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn nhận định, các bộ ngành không để tâm đến các lĩnh vực của bộ ngành khác. Các kết quả, số liệu của các bộ, ngành không hoàn toàn thống nhất, không đủ điều kiện, không là cơ sở tin cậy để sử dụng cho các nghiên cứu của nhau.

Bởi vì, thiếu sự phối kết chặt chẽ giữa các ngành cho nên nhiều quy hoạch chồng chéo, đã có quy hoạch này lại lập quy hoạch khác gây lãng phí và mâu thuẫn khi thực hiện quy hoạch. Đặc biệt là trong công tác quy hoạch sử dụng đất đai, những quy định sử dụng đất của ngành Tài nguyên môi trường không thống nhất với sử dụng đất của quy hoạch xây dựng tạo điều kiện phát sinh các hành vi trục lợi về đất, thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Lợi dụng các chương trình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư, các dự án tái định cư dẫn đếnhậu quả nghiêm trọng, là nguyên nhân của các khiếu kiện dân sự kéo dài gây bức xúc trong nhân dân,

Thời gian gần đây đã có nhiều tranh luận về vấn đề vị trí của quy hoạch xây dựng trong dự thảo Luật quy hoạch bởi theo đó quy hoạch xây dựng chỉ còn lại Quy hoạch đô thị và Quy hoạch nông thôn, quy hoạch xây dựng vùng không còn nữa mà tích hợp với quy hoạch kinh tế xã hội của vùng, quy hoạch khu chức năng đặc thù vì vậy cũng không tồn tại dù mới được ra đời theo Luật Xây dựng sửa đổi năm 2014.

Hai chữ xây dựng khi gắn với quy hoạch thực sự gây nhiều bàn cãi, nhiều chuyên gia cho rằng trên thế giới không nước nào có quy hoạch xây dựng cả. Tuy nhiên ở nhiều nước có quy hoạch vật thể (Physical Planning), hoặc quy hoạch môi trường (Environment Planning) có thể khác nhau về tên gọi nhưng bản chất cũng giống như quy hoạch xây dựng - cũng chú trọng đến không gian kiến trúc cảnh quan và sử dụng đất khu vực quy hoạch.

Các vấn đề gây tranh cãi về Luật Quy hoạch cũng xoay quanh câu hỏi phải chăng có lợi ích nhóm trong soạn thảo chế định của luật. Trong điều kiện của nước ta, khi pháp luật chưa chặt chẽ, đồng bộ và đủ hiệu lực để điều phối tổng thể sẽ tạo điều kiện cho những tổ chức, cá nhân lợi dụng để mưu cầu lợi ích. Sự thiếu nhất quán và đồng bộ, chồng chéo và mâu thuẫn trong công tác quy hoạch phần nào là hậu quả tất yếu của vấn đề này. Quy hoạch là một công cụ pháp lý được các cơ quan nhà nước ưa dùng, do đó, để tránh sự lạm dụng thì cần thu hẹp đối tượng của quy hoạch, giảm số lượng các loại quy hoạch, tích hợp theo hướng đa ngành và liên ngành, đồng thời ban hành hệ thống các quy định tổ chức thực hiện kèm theo cho mọi đối tượng. Vì vậy cần phải có Luật Quy hoạch ra đời.

Tuy nhiên đề nghị tích hợp các nội dung về quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù trong nội dung của quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh (quy hoạch tổng thể) đồng thời quy định quy hoạch này do Bộ Xây dựng làm, đưa sang Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định phê duyệt thực sự sẽ gây nhiều bất cập. Quy hoạch xây dựng hướng đến tổ chức không gian vật thể trong khi quy hoạch kinh tế xã hội là không gian phi vật thể, thực chất đó là các kế hoạch, những chỉ tiêu kinh tế, xã hội trong những khoảng thời gian nhất định. Việc trao quá nhiều quyền lực cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong phê duyệt quy hoạch của các bộ, ngành đã tạo nên những rào cản cho chính các bộ ngành đó. Nhiều năm qua, có thể thấy những chỉ tiêu đề ra trong các quy hoạch kinh tế xã hội phần nhiều mang tính thành tích, chủ quan, rất hiếm khi thực hiện được. Trong nền kinh tế thị trường, cần loại bỏ hoặc hạn chế tối đa cái gọi là quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Bởi nguồn lực phát triển được người dân tạo ra và chịu sự chi phối của thị trường. Cho nên, nếu Nhà nước vẫn muốn quy hoạch phát triển đời sống thì đôi khi không tránh khỏi sự áp đặt, duy ý chí và phi thực tế. Thay vào đó, nên tập trung làm một loại quy hoạch, đó là quy hoạch về phân bố không gian và sử dụng đất đai[1]. Đất đai và không gian là có giới hạn và ngày càng khan hiếm vì nhu cầu ngày càng tăng do đó phải được quy hoạch sử dụng một cách thống nhất và đồng bộ trên toàn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm tính hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả cho hiện tại và tương lai - và đây chính là sứ mệnh của quy hoạch xây dựng.

Tích hợp và hợp nhất hệ thống quy hoạch là xu hướng tất yếu, đây sẽ là một cuộc “giải phẫu đau đớn” động chạm đến nhiều bộ, ngành mà Nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm phải tiến hành với tư cách là nhà quản trị quốc gia. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam, khi Nhà nước còn là chủ sở hữu đại diện về đất đai, mọi thứ hữu hình của các cá nhân và tổ chức đều tồn tại trên đất. Thống nhất một loại hình quy hoạch, tập trung quy hoạch những gì cần quy hoạch, cần quản lý đó là không gian và đất đai, tránh quy hoạch tràn lan, chồng chéo, lãng phí và cản trở lẫn nhau. Có thể tên gọi của các quy hoạch này không còn 2 chữ xây dựng nữa tuy nhiên nó phải được tiếp cận dưới góc độ của quy hoạch xây dựng để cụ thể hóa không gian vật thể trên toàn bộ lãnh thổ đất nước. Cần phân định cụ thể thẩm quyền của trung ương và địa phương hơn nữa để tránh chồng chéo và lạm quyền. Người dân, các tổ chức xã hội, các nhà chuyên môn phải được tham gia sâu rộng hơn vào quá trình quy hoạch để đảm bảo quy hoạch mang tính thực tiễn, khách quan, đáp ứng các yêu cầu đa dạng của cuộc sống.

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Tiến Luật: Ý kiến về xây dựng Luật Quy hoạch trong bài phỏng vấn Cải cách thể chế hay đơn thuần cải tiến kỹ thuật - thực hiện bởi Lương Phong - Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 3/2017.
  2. Nguyễn Đăng Sơn: Quản lý thực hiện quy hoạch đô thị trong cơ chế thị trường. Tạp chí Sài Gòn đầu tư & xây dựng. 2012.
  3. Nguyễn Đăng Sơn: Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị, Tập 1,2.NXB Xây dựng 2005-2006
(Nguồn:PGS.TS. KTS. Lương Tú Quyên - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 87))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website