Vai trò của ngành quy hoạch xây dựng trong hệ thống quy hoạch ở Việt Nam với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Hệ thống quy hoạch ở nước ta hiện nay có thể phân thành 4 loại chủ yếu: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm; Quy hoạch xây dựng (trong đó có Quy hoạch đô thị); Quy hoạch sử dụng đất và 4 cấp: cấp quốc gia (cả nước), cấp vùng, cấp tỉnh và cấp huyện.

Trong gần 30 năm qua, Việt Nam về KTXH đã thu được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Đạt được thành tựu trên phải kể tới sự đóng góp của hệ thống quy hoạch Việt Nam trong đó có Quy hoạch xây dựng.

Quy hoạch xây dựng đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát triển KT-XH của đất nước. Trong đó, kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước, các chỉ số thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả nước. Hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kĩ thuật đô thị, kể cả khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng từng bước theo hướng đồng bộ, hiện đại. Nhìn chung, diện mạo kiến trúc, đô thị, nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, có bản sắc...

Hiện nay là thời điểm tốt nhất để đánh giá một cách tổng quan về vai trò của ngành quy hoạch xây dựng trong hệ thống quy hoạch Việt Nam để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới tiếp tục được thành công tốt hơn.

1. Lược sử và những thành tựu nổi bật của ngành quy hoạch xây dựng

Từ khi các đô thị Việt Nam hình thành, có lẽ từ mô hình Thành cổ Cổ Loa cho đến Hà Nội và các đô thị dọc theo Đất Nước chủ yếu hình thành theo mô hình Đô và Thị như một cấu trúc lưỡng tính gắn chặt với nhau thành một cấu trúc điển hình kéo dài suốt thời kỳ Phong kiến. Cho đến thế kỉ 18-19, các kiến trúc sư người Pháp đã mang đến Việt Nam cách làm quy hoạch đô thị hiện đại theo kiểu phương Tây. Vào đầu thập kỉ 60 của thế kỉ 20, KTS Hoàng Như Tiếp có viết cuốn sách về Quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam được xem như một tài liệu đầu tiên ở Việt Nam do người Việt viết phương pháp, quy trình lập Quy hoạch. Kể từ đây ngành quy hoạch xây dựng đã trưởng thành và đóng góp nhiều thành tựu lớn lao trong công cuộc xây dựng đất nước qua các thời kỳ.

Thời kỳ 1956 - 1964: Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nhân dân miền Bắc bước vào xây dựng khôi phục và phát triển đất nước. Từ 1960 đến 1964, đô thị hóa phát triển theo chiều rộng với xu hướng chiến lược là xây dựng một mạng lưới đô thị trung bình và nhỏ đều khắp trên toàn lãnh thổ đất nước. Ngành quy hoạch xây dựng (QHXD) lúc đó đi sâu vào các lĩnh vực:Thiết kế, cải tạo, phát triển xây dựng, phục hồi các đô thị và điểm dân cư nông thôn toàn miền Bắc.Công tác lập đồ án QHXD bước đầu được hình thành theo quy trình của Liên Xô. Đồ án quy hoạch Thủ đô Hà Nội được thực hiện với sự trợ giúp của chuyên gia Liên Xô. Chuyên gia Trung Quốc sang giúp quy hoạch 2 thành phố công nghiệp Thái Nguyên và Việt Trì. Ba Lan giúp quy hoạch TP. Hải Phòng… Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc…, những công việc QHXD thực hiện trong giai đoạn này đã đặt nền móng vững chắc và chắp cánh cho ngành quy hoạch xây dựng của nước ta sau này.

Thời kỳ 1965-1975: Thời gian này, ngoài công việc nghiên cứu đồng bộ theo bài bản của Liên Xô, ngành QHXD nghiên cứu thêm được 3 mô hình để phổ biến rộng rãi là: (1) Mô hình QHXD vùng tỉnh của đoàn Bungari, đặc biệt là cách phân tích thay đổi theo từng giai đoạn, tiến lên sản xuất lớn của mạng lưới các điểm dân cư nông thôn được hình thành với sự xuất hiện các đô thị nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn (2) Mô hình QHXD cụ thể của đoàn chuyên gia CHDC Đức, nhằm đáp ứng các yêu cầu bức bách trước mắt (đặc biệt là vấn đề nhà ở cho việc hồi cư) trên cơ sở xác định hợp lý một khu dân cư của đô thị (3) Mô hình bảo vệ môi trường lâu bền trong quy hoạch phát triển khai thác du lịch, bảo tồn sinh thái, cảnh quan vùng Hạ Long, hài hòa với việc phát triển các ngành kinh tế (công nghiệp, nông, lâm nghiệp, phát triển cảng biển, khai thác vật liệu xây dựng…) của đoàn chuyên gia Hungari.Với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đoàn chuyên gia nước ngoài, đội ngũ cán bộQHXD đã được mở rộng cả nhận thức thực tế cũng như lý thuyết và đã có một bước trưởng thành rõ rệt.

Thời kỳ 1976-1985: Đất nước thống nhất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện trên phạm vi cả nước. Chúng ta đứng trước hai hệ thống đô thị hoàn toàn khác nhau ở hai miền, lại bị chiến tranh tàn phá. Lần đầu tiên, ngành QHXD đã nghiên cứu những định hướng đô thị hóa mang tính chiến lược cho cả nước trong tình hình hòa bình, với một nền kinh tế què quặt và những vết thương chiến tranh chồng chất nặng nề. Trang lịch sử mới của đất nước, cũng là trang lịch sử mới của công tác QHXD, đòi hỏi những nhận thức quan điểm mới, những tầm nhìn mới. Chuyển biến nhận thức đã khó, nhưng tìm ra được hướng đi mới lại còn khó khăn hơn gấp bội, vì nó gắn chặt với chính sách về chính trị - kinh tế - xã hội của Nhà nước trong bối cảnh lịch sử mới với một nền kinh tế kiệt quệ sau một thời gian chiến tranh kéo dài, các khoản viện trợ từ bên ngoài bị cắt đứt và bắt đầu gánh chịu sự bùng nổ dân số. Với ngành QHXD đã có dịp so sánh 2 đường lối đô thị hóa, 2 hệ thống đô thị hình thành phát triển dưới 2 chế độ chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau để rút ra những bài học cần thiết, hết sức thực tiễn để thực hiện theo những định hướng mới về chính sách kinh tế xã hội nhằm vượt qua những khó khăn chồng chất.

Thời kỳ đổi mới 1986-1995: Bước vào thời kỳ đổi mới, với sự tác động lớn từ những đường lối chính sách mới của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi công tác QHXD phải được nghiên cứu đổi mới, để có giải pháp thỏa đáng, thiết thực và khả thi. Tình trạng bùng nổ dân số, thiếu nhà ở, “phố hóa” các tiểu khu nhà ở, sửa mặt tiền, mở cửa hàng khắp nơi, ách tắc giao thông, phát triển thị trường buôn bán bất động sản… cùng việc hình thành các khu công nghiệp tập trung, các dự án đầu tư của nước ngoài, đã dồn dập đòi hỏi ngành QHXD phải tìm giải pháp giải quyết. Vì vậy, nội dung và phương pháp QHXD có nhiều đổi mới để đáp ứng với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN: khai thác và quản lý có hiệu quả nhất quỹ đất, không gian cảnh quan kiến trúc, kết cấu hạ tầng và môi trường. Nhiều chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp ngành như chương trình về đô thị hóa, chiến lược phát triển đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, động thái dân số đô thị, xã hội học đô thị, giao thông đô thị… đã được thực hiện để đổi mới công tác QHXD.

Thời kỳ 1996-2007: Giai đoạn bùng nổ xây dựng theo định hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Ngành QHXD liên tiếp giúp địa phương nghiên cứu điều chỉnh các quy hoạch đô thị, trong đó phải kể đến Hà Nội, TP. HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu… Đồng thời tiếp tục nghiên cứu quy hoạch các đô thị mới và các đô thị tỉnh lỵ mới được tách tỉnh, như Vạn Tường - Dung Quất, Chu Lai - Kỳ Hà, Bắc Ninh, Hưng Yên, Gia Nghĩa.Bước đầu tiến hành nghiên cứu sâu rộng các quy hoạch vùng lãnh thổ quan trọng như: vùng thủ đô Hà Nội, vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải Trung vùng TP. HCM, Trung Bộ, vùng biên giới phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long…Tiến hành nghiên cứu thí điểm một số thiết kế đô thị ở Hạ Long - Quảng Ninh, Đà Lạt - Lâm Đồng và ở một số đô thị khác. Quy hoạch các vùng sinh thái và các vùng đặc thù khác như: Vườn quốc gia Ba Vì, khu nghỉ mát Tam Đảo, khu du lịch sinh thái bán đảo Cà Mau, khu du lịch sinh thái Hạ Long, khu du lịch sinh thái vịnh Văn Phong. Các quy hoạch bảo tồn như quy hoạch bảo tồn và khai thác cố đô Huế, QH bảo tồn khai thác di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, QH bảo tồn khai thác cố đô Hoa Lư, QH làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, QH các khu kinh tế cửa khẩu và ven biển và nhiều quy hoạch xây dựng khác đã được thực hiện trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Thời gian này, nhiều văn bản pháp quy quan trọng như Luật Xây dựng, Nghị định về quy hoạch xây dựng, đánh giá tác động môi trường trong quy hoạch xây dựng đã được ban hành. Đáng lưu ý là trong Luật Xây dựng có chương II về Quy hoạch xây dựng lần đầu tiên được ban hành và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 7-2004.

Thời kỳ 2008-đến nay: Giai đoạn này hệ thống văn bản pháp lý về ngành QHXD cơ bản đã được kiện toàn như Luật Quy hoạch đô thị 2009, Luật Xây dựng 2014, Nghị định 44/2015/NĐ-CP, Quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng để hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng và Thông tư 12/2016/TT-BXD, Quy định về hồ sơ của nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch xây dựng khu chức năng đặc thù đã nâng tầm ngành QHXD trong công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều đồ án quy hoạch quan trọng đã được triển khai thực hiện như Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2035; điều chỉnh QHXD vùng thủ đô Hà Nội, Quy hoạch chi tiết trung tâm chính trị Ba Đình, QHCT nhà tang lễ Quốc gia; QHXD hệ thống trụ sở làm việc của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan TW tại Hà Nội và TP HCM đến năm 2030, QH quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, QH quản lý chất thải rắn lưu vực sông Đồng Nai, QH thoát nước lưu vực sông Cầu, QH quản lý chất thải rắn vùng Đồng Bằng Bắc Bộ… Nhiều đồ án QHXD đã được thực hiện với sự phối hợp của tư vấn nước ngoài. Hình thức hợp tác này tận dụng được mặt mạnh của tư vấn nước ngoài, tiết kiệm chi phí cho chủ đầu tư và quan trọng hơn là khẳng định được vị trí, uy tín và xu hướng hội nhập của ngànhQHXD.

Những thành tựu trong QHXD nêu trên là kết quả của một quá trình đổi mới công tác QHXD, linh hoạt trong việc xác định mục tiêu, định hướng, chú ý nhiều hơn đến yếu tố thị trường để cập nhật phục vụ việc lập quy hoạch, bổ sung và điều chỉnh quy hoạch kịp thời. Vì vậy, nhiều QHXD đã bám sát với tình hình thực tế, đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tình hình mới; đồng thời cũng là căn cứ để xây dựng các kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm.

2. Vai trò của ngành quy hoạch xây dựng trong hệ thống quy hoạch ở Việt Nam với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

2.1. Vai trò của ngành quy hoạch xây dựng trong hệ thống quy hoạch ở Việt nam

Trong hệ thống quy hoạch hoạch tại Việt Nam bên cạnh QHXD còn có các quy hoạch ngành nhằm định hướng phát triển cho các ngành kinh tế-xã hội. Cụ thể:

1. Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội: Định hướng phát triển kinh tế-xã hội cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

2. Quy hoạch sử dụng đất: Định hướng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

3. Quy hoạch giao thông vận tải: Định hướng phát triển giao thông vận tải cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

4. Quy hoạch công nghiệp và thương mại: Định hướng phát triển công nghiệp và thương mại cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

5. Quy hoạch du lịch, thiết chế văn hóa và thể dục thể thao: Định hướng phát triển du lịch, thiết chế văn hóa và thể dục thể thao cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

6. Quy hoạch nông nghiệp và phát triển nông thôn: Định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn cho quốc gia, các vùng lãnh thổ và địa phương.

7. Và một số quy hoạch ngành khác như Giáo dục, y tế…

Mỗi quy hoạch ngành là cơ sở để quản lý các ngành kinh tế của quốc gia và được quản lý bởi các Bộ, Ngành chuyên trách.

Theo Luật xây dựng năm 2014 Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian của đô thị, nông thôn và khu chức năng đặc thù; tổ chức hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng­, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh.QHXD được phân thành bốn loại: Quy hoạch vùng, Quy hoạch đô thị (bao gồm quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu đô thị và quy hoạch chi tiết đô thị), Quy hoạch các khu chức năng đặc thù, Quy hoạch nông thôn. Về phạm vi, QHXD không chỉ liên quan đến không gian trên mặt đất mà còn liên quan đến không gian ngầm, gồm phần ngầm của các công trình xây dựng, các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm, giao thông ngầm đô thị, các công trình công cộng ngầm.

QHXD có vai trò rất quan trọng trong đầu tư xây dựng (ĐTXD) và phát triển kinh tế - xã hội. QHXD tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ, là cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển. QHXD là cơ sở tạo lập môi trường sống tiện nghi, an toàn và bền vững, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; bảo vệ môi trường, di sản văn hóa, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. QHXD là căn cứ quan trọng cho công tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng; quản lý khai thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị, điểm dân cư nông thôn.

Vì vậy có thể hiểu Quy hoạch xây dựng là quy hoạch nền tảng về không gian và cơ sở vật chất cho các ngành kinh tế phát triển nên có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước và được thể hiện cụ thể ở các khía cạnh sau:

1. Quy hoạch xây dựng giải quyết mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực và tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu.

Theo Luật Xây dựng 2014“Quy hoạch xây dựng vùng là việc tổ chức hệ thống đô thị, nông thôn, khu chức năng đặc thù và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong địa giới hành chính của một tỉnh hoặc một huyện, liên tỉnh, liên huyện phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ” . Quy hoạch xây dựng vùng (liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện) gồm: xác định và phân tích tiềm năng, động lực phát triển vùng; dự báo về tốc độ đô thị hoá; giải pháp phân vùng chức năng, phân bố hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn; xác định khu vực chức năng chuyên ngành, cơ sở sản xuất, hệ thống công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội có ý nghĩa vùng. Để làm được điều này quy hoạch xây dựng vùng buộc phải nghiên cứu toàn diện các mặt về phát triển kinh tế-xã hội các ngành nghề cùng phát triển trên một lãnh thổ không gian và cần được phân bổ một cách hợp lý. Vì vậy quy hoạch xây dựng vùng phải tích hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các ngành các lĩnh vực trong nội dung quy hoạch hoạch vùng và từ đó nó có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu do việc sắp xếp không gian lãnh thổ để đảm bảo sự phát triển cho các ngành kinh tế.

2. Quy hoạch xây dựng là nền tảng của phát triển kinh tế đô thị

Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009 “Quy hoạch chung là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững”. Quy hoạch chung đô thị gồm: xác định mục tiêu, động lực phát triển, quy mô dân số, đất đai, chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật; mô hình phát triển, định hướng phát triển không gian nội thị và khu vực ngoại thị, trung tâm chính trị - hành chính, dịch vụ, thương mại, văn hoá, giáo dục, đào tạo, y tế, công viên cây xanh, thể dục, thể thao cấp đô thị; quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật khung trên mặt đất, trên cao và ngầm dưới đất; đánh giá môi trường chiến lược; kế hoạch ưu tiên đầu tư và nguồn lực thực hiện. Để làm được điều này quy hoạch chung buộc phải nghiên cứu cụ thể sự tích hợp phát triển của các ngành kinh tế trên địa bàn đô thị, hoạch định hướng đi cụ thể, xác định không gian cụ thể cho các ngành kinh tế phát triển. Giải quyết tốt mối quan hệ trong phát triển kinh tế của các ngành tạo thành nền kinh tế đô thị vững chắc.

3. Quy hoạch xây dựng tập hợp được các nguồn lực phát triển hợp lý các ngành

Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009 “Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung”. Quy hoạch phân khu gồm: xác định chức năng sử dụng cho từng khu đất; nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan cho toàn khu vực lập quy hoạch; chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô phố; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến các trục đường phố phù hợp với các giai đoạn phát triển của toàn đô thị; đánh giá môi trường chiến lược. Để làm được việc này quy hoạch phân khu phải làm rõ các chức năng sử dụng đất cho các ngành kinh tế phát triển (kể cả chức năng hỗn hợp) làm căn cứ quản lý và thu hút nguồn lực đầu tư . Quy hoạch phân khu sẽ giúp các nhà đầu tư có những thông tin, chỉ tiêu cụ thể để lập kế hoạch đầu tư có hiệu quả với nhiều loại hình đa dạng trên địa bàn đô thị.

4. Quy hoạch xây dựng thúc đẩy quá trình đô thị hoá

Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009 “Quy hoạch chi tiết là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất; bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hoá nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung”. Quy hoạch chi tiết gồm: xác định chỉ tiêu về dân số, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc cho toàn khu vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; chỉ tiêu sử dụng đất và yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất; bố trí mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất; đánh giá môi trường chiến lược. Để làm được điều này quy hoạch chi tiết phải thực hiện đến các bước thiết kế quy hoạch cụ thể đến từng lô đất, công trình đảm bảo tính hiện thực cho quá trình đầu tư xây dựng. Quy hoạch chi tiết là căn cứ quan trọng để cấp phép đầu tư xây dựng đô thị. Trên cơ sở đó các nhà đầu tư xây dựng công trình theo mục đích sử dụng và kinh doanh của mình. Đây là giai đoạn cụ thể hóa quy hoạch trên thực địa, nó góp phần thức đẩy quá trình đô thị hóa hiện thực.

Tương tự như trên Quy hoạch xây dựng các khu chức năng đặc thù gồm: Quy hoạch chung xây dựng, Quy hoạch phân khu xây dựng, Quy hoạch chi tiết xây dựng là cơ sở quan trọng để triển khai đầu tư xây dựng những trọng điểm kinh tế của đất nước.

Quy hoạch nông thôn nghiên cứu sắp xếp ổn định và phát triển dân cư gắn với phân bố sản xuất nông nghiệp đã giúp nông thôn mới Việt Nam ngày càng khang trang hơn.

3. Những yêu cầu về đổi mới công tác quy hoạch xây dựng

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta cũng cần có các giải pháp để khắc phục có hiệu quả những hạn chế trong thời gian qua như: chất lượng đô thị hóa của Việt Nam chưa cao; cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng như không gian, kiến trúc đô thị mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng chậm phát triển, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu; tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị có nguy cơ vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương; tình trạng xây dựng chưa ngăn nắp, ùn tắc giao thông ở các đô thị lớn, cung cấp đủ nước sạch, thoát nước và xử lý chất thải, tăng quỹ nhà ở xã hội cho các đối tượng là người có thu nhập thấp, là công nhân, sinh viên chưa được giải quyết thấu đáo...; quy hoạch sử dụng đất đô thị còn đang “mắc” với quy hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai... Việc triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới còn chậm.

Việc tham gia của cộng đồng trong công tác QHXD, quản lý xây dựng theo quy hoạch còn mang tính hình thức, hoặc mức độ tham gia còn rất giản đơn, chưa thấy rõ trách nhiệm, quyền lợi của các bên liên quan trong công tác lập và quản lý QHXD. Cộng đồng thường là các đối tượng bị động, thiếu các thông tin cần thiết để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi của mình. Đây là một kẽ hở không nhỏ mà quyền lợi cộng đồng bị xâm hại, ảnh hưởng tới tính dân chủ trong quá trình đổi mới Đất nước...

Công tác lập QHXD đã tiếp cận tư duy đổi mới, nhưng triển khai còn chậm (mặc dù những yếu tố mới đã được điều chỉnh tại các bộ Luật Xây dựng, luật Quy hoạch đô thị và các nghị định, thông tư hướng dẫn kèm theo). Chất lượng đồ án QHXD chưa đồng đều, vẫn còn đồ án QHXD chất lượng thấp gây lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, có nguy cơ suy thái chất lượng môi trường, cảnh quan.

Các yêu cầu đối với đổi mới công tác lập quy hoạch xây dựng

1. Cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí, thứ tự tầng bậc và mối quan hệ giữa QHXD và các quy hoạch ngành. Từ đó đề xuất các phương pháp QHXD mới có thể lồng ghép, hợp nhất các quy hoạch ngành.

2. Phù hợp với nền kinh tế thị trường, đáp ứng được số đông cư dân đô thị, đặc biệt là tại các đô thị nghèo và các đô thị tồn tại nhiều hình thức phi chính quy.

3. Tạo ra những sản phẩm quy hoạch bền vững, xem xét đầy đủ các vấn đề như cạnh tranh đô thị, kinh tế-xã hội, tài chính đô thị, môi trường đô thị, bảo tồn và tái thiết đô thị, biến đổi khí hậu, công bằng xã hội, xây dựng nông thôn mới…

4. Xóa bỏ cách tiếp cận còn nặng từ trên xuống, mang tính áp đặt, phải tương thích với quá trình thay đổi thể chế và cải cách hệ thống quản trị của chính quyền các cấp. Không được nằm ngoài xu thế cải cách hành chính của quốc gia, phải hướng tới quá trình ngày càng mở trong ra quyết định công với sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan và công chúng.

5. Hướng tới giảm chi phí ngân sách nhà nước cho công tác lập quy hoạch xây dựng, rút ngắn quy trình, thời gian lập và thẩm định phê duyệt, cải thiện công tác quản lý nhà nước theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, tạo điều kiện cho chủ đầu tư sớm thực hiện các dự án đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả quản lý vĩ mô và hoạch định chính sách.

Kết luận:

Từ ngày hòa bình lập lại (1954), trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, ngành QHXD đã có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật lớn mạnh, gồm các tiến sỹ, thạc sĩ, kiến trúc sư, kỹ sư, cử nhân các chuyên ngành kinh tế, văn hóa, xã hội,…và một mạng lưới các Viện, Trung tâm nghiên cứu phủ khắp 63 tỉnh thành trên cả nước từ Trung ương đến địa phương. Đội ngũ ấy, với tính năng động sáng tạo và kinh nghiệm chuyên môn sâu, luôn nỗ lực hoàn thành tốt sứ mệnh được Đảng và Nhà nước giao phó.

Ngành QHXD đã góp phần không nhỏ cho công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa của đất nước. Các đồ án QHXD, từ quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch nông thôn là những định hướng chiến lược trong việc phát triển không gian vùng lãnh thổ, đưa quá trình đô thị hóa vào tầm kiểm soát, để giảm thiểu tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình phát triển đô thị và nông thôn. Đồ án QHXDđược phê duyệt cũng chính là việc cụ thể hóa những đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước, đồng thời, đây cũng là công cụ hữu hiệu giúp chính quyền quản lý sự phát triển đô thị, nông thôn một cách bền vững.

Ngành QHXD luôn chủ động đổi mới về phương pháp tiếp cận, đề ra kế hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình, các đề tài nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Trong tình hình mới hiện nay, trước xu thế hội nhập để phát triển và ứng phó với việc biến đổi khí hậu toàn cầu, ngành QHXD tiếp tục nghiên cứu đổi mới và đề xuất các giải pháp thiết thực, phát huy được hiệu quả trong xã hội, góp phần quan trọng trong việc đối mới quy trình, thủ tục lập và quản lý kiến trúc, quy hoạch xây dựng ở Việt Nam.

Ngành QHXD luôn khẳng định vai trò của mình trong hệ thống quy hoạch quốc gia bằng công tác phối hợp với các quy hoạch ngành khác trong việc tích hợp chung vào một bản QHXD nhằm ngày một nâng cao tính toàn diện trong nghiên cứu lập quy hoạch xây dựng. Vai trò này không thể thiếu trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Luật Quy hoạch đô thị 2009.

2. Luật Xây dưng 2014.

3. Kỷ yếu lịch sử 60 năm Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia

4. Lưu Đức Cường & Cao Sỹ Niêm. Thực trạng công tác lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam & đề xuất một số định hướng đổi mới. Tạp chí Quy hoạch xây dựng số 82. 2016.

5. Vũ Viết Thiệu. Thực trạng và một số giải pháp cho quy hoạch xây dựng. Tạp chí nghiên cứu lập pháp 08/06/2012

(Nguồn:PGS.TS. Lưu Đức Cường-Ths.KTS. Cao Sỹ Niêm - Tạp chí quy hoạch xây dựng (Số 87))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website