CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ, CÔNG CỤ HỢP NHẤT PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ NHẰM PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG

1.SỰ CẦN THIẾT Đổi mới phương pháp luận về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị là điều kiện cần thiết để đô thị thích ứng trong điều kiện thay đổi địa kinh tế chính trị, biến đổi khí hậu, khả năng cạnh tranh đô thị và phi biên giới. Việc đổi mới thể chế quản lý Nhà nước về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị sẽ là yếu tố tạo ra động lực tăng trưởng mới cho đô thị

Do môi trường kinh tế cạnh tranh và không chắc chắn, cần có những nguyên tắc để sử dụng nguồn nhân lực và tài chính một cách hiệu quả nhất để đạt mục tiêu. Vì vậy, quy hoạch và quản lý phát triển đô thị cần đổi mới cách tiếp cận về phát triển không gian và cung cấp hạ tầng, chất lượng sống của dân cư, tập trung hơn và ưu tiên tới những vấn đề chiến lược của đô thị như phẩm chất tạo ra cạnh tranh đô thị, chất lượng sống đô thị, quỹ đất phát triển dự án tái cấu trúc đô thị, dự án đổi mới đô thị, xây dựng và nâng cao năng lực hạ tầng theo hướng hiện đại, thay vì đưa ra một kịch bản phát triển ‘lý tưởng’ và thiếu sự tham gia của các bên. 

Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia (VIUP) đã chủ trì nhiều định hướng, chiến lược, đề tài nghiên cứu đổi mới về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị từ những năm 1960 tới nay. Năm 2018, VIUP được Bộ Xây dựng giao nhiệm vụ xây dựng Đề án Đổi mới phương pháp luận quy hoạch và quản lý phát triển đô thị và đang trong quá trình nghiên cứu, đề xuất nhiều giải pháp về công cụ quy hoạch và quản lý phát triển đô thị, trong đó công cụ chiến lược phát triển đô thị. Đây là một chủ đề nghiên cứu được nhiều sự quan tâm trong xã hội. Qua quá trình nghiên cứu, từ những kinh nghiệm trong nước và quốc tế, tác giả sẽ đề xuất công cụ chiến lược phát triển đô thị, nhằm hợp nhất phát triển ngành và quy hoạch đô thị để phát triển đô thị bền vững. 

Các thành phố có vai trò và vị thế, điều kiện KT-XH, môi trường, lịch sử, lợi thế và thách thức khác nhau, cho nên không thể có một công thức phổ quát chung, mà mỗi nơi cần có phương thức riêng. Đó chính là chiến lược phát triển riêng theo đặc thù của mình, hay nói ngắn gọn là chiến lược phát triển đô thị. Chiến lược phát triển đô thị cần giải quyết 3 vấn đề sau:

üLà công cụ để đổi mới về mô hình đô thị: Đô thị trung tâm kinh tế là động lực phát triển, tạo ra của cải, vật chất, việc làm, thu nhập và cũng là nơi tạo ra nhiều rác thải, chất ô nhiễm, tiêu hao năng lượng, tài nguyên đất đai nhiều nhất. Do đó, mục tiêu phát triển đô thị bền vững: tăng tính cạnh tranh đô thị, kinh tế địa phương, giảm nghèo, giảm thiểu sử dụng tài nguyên không tái tạo, sử dụng bền vững tài nguyên sạch, duy trì khả năng ngưỡng dung nạp chất thải cấp địa phương và toàn cầu sẽ giúp cho quốc gia đạt được cả 3 mục tiêu PTBV là phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội.

üLà công cụ để đổi mới về quy hoạch đô thị dựa trên quan điểm PTBV hướng tới  chất lượng tăng trưởng: ngưỡng phát triển (tự nhiên, xã hội, kinh tế), ranh giới tăng trưởng, không gian đô thị tích hợp với giao thông minh, giao thông công cộng, đô thị nén, đô thị sinh thái, đô thị phát thải thấp, hạ tầng xanh, khai thác lợi thế ngân hàng dữ liệu và công nghệ thông tin trong cung cấp, khai thác và vận hành các hoạt động liên quan tới quy hoạch và quản lý phát triển đô thị...

  • Là công cụ để đổi mới về quản lý phát triển đô thị: Tích hợp chính sách tài chính đô thị công trong quản lý phát triển đô thị, tăng trưởng thông minh và TOD; Tích hợp sử dụng đất với giao thông; Quy hoạch chiến lược và hạ tầng khung; Tích hợp quy hoạch vật thể và quy hoạch phát triển; Quy hoạch không gian chiến lược, liên kết chiến lược phát triển đô thị với dự án siêu đô thị, siêu hạ tầng...

<>1.Nhất thể hệ thống quy hoạch đô thị gồm quy trình, nội dung và sản phẩm các quy hoạch theo chiều ngang (QHXD, QH môi trường, QH đất đai, QH KT-XH, QH phi vật thể) và theo chiều dọc của hệ thống quy hoạch quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh [1]. 

  • Thiết kế thống nhất 1 quy trình về tổ chức lập quy hoạch, thúc đẩy các diễn đàn, trao đổi, thương thảo bao gồm nhiều lĩnh vực, nhóm lợi ích và các sáng kiến địa phương nhằm đảm bảo các quyết định mang tính tích hợp, có sự tham gia, cam kết của các bên, kết nối lợi ích đơn ngành với một tầm nhìn chung, với chính sách cấp quốc gia, cấp vùng cũng như đối với đô thị [3,5].

  • Xác định quy trình, nội dung của phương pháp tiếp cận hệ thống từ xác định vấn đề, thách thức, tầm nhìn, chiến lược đến các chỉ tiêu đánh giá và dự án cam kết thực hiện, nhằm xác định thứ tự ưu tiên với mục tiêu đa ngành, được xác định theo các chủ đề quan trọng của chiến lược phát triển, góp phần đạt được tầm nhìn và mục tiêu phát triển trong tương lai. Các dự án và hành động ‘sáng kiến’ được xác định đảm bảo có thể thực hiện theo thể chế hiện hành mà không dẫn tới xung đột về pháp lý và tổ chức, nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, bao gồm các quỹ ‘chương trình mục tiêu’ của địa phương…

  • Cơ chế giám sát và đánh giá thực hiện quy hoạch, quản lý phát triển đô thị.

  • Tích hợp cơ sở dữ liệu lập quy hoạch và quản lý phát triển đô thị [1].

<>2.CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

Chiến lược nhằm đổi mới mô hình phát triển đô thị theo hướng đô thị phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu:

                 -Về tăng trưởng kinh tế bền vững: Chiến lược nhằm tạo ra một bộ khung thuận lợi cho các cơ hội kinh tế mới, các cơ hội về đất đai và thị trường bất động sản, cũng như là công cụ giám sát, thực hiện cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chuẩn mực. Quy hoạch đô thị tạo ra một cơ chế ra quyết định đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, phát triển xã hội, môi trường bền vững, thúc đẩy tính kết nối giữa các vùng lãnh thổ. Chiến lược cho cấu trúc không gian đô thị là mối tổng hòa của ba thành tố: (i) mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc đô thị và hiệu quả sử dụng năng lượng; (ii) mối quan hệ chặt chẽ giữa sự hấp dẫn của thành phố (giải trí) và hiệu quả kinh tế (một thành phố không hấp dẫn thì hiếm khi tạo ra các hoạt động kinh tế có giá trị cao); và (iii) tầm quan trọng của đất đai (tính sẵn có, vị trí, tính sở hữu). Việc tiếp cận đất phải được mở rộng cho tất cả các đối tượng, từ các nhà đầu tư phát triển chính thức, quy mô lớn cho đến những công trình riêng lẻ, các đối tượng dân nhập cư. Nếu so sánh với việc giảm đói nghèo thì giải quyết hiệu quả vấn đề nhà ở, giao thông và sinh kế cho người dân nhập cư là dễ hơn nhiều. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội: Đánh giá cơ sở hạ tầng và lập kế hoạch đầu tư là hai việc phức tạp và đòi hỏi sự cẩn trọng, cần có những sự đánh đổi (và có thể có sự hợp lực) giữa các mục tiêu bình đẳng (cung cấp dịch vụ cơ bản cho tất cả các thành viên của xã hội đô thị ở mức giá phải chăng) và mục tiêu kinh tế. Điều này có thể được điều tiết thông qua những tuyến đường cao tốc, bến cảng, sân bay... Quy hoạch không gian và quy hoạch sử dụng đất sẽ là xương sống cho việc thực hiện các chiến lược phát triển đô thị

-Về phát triển xã hội: Chiến lược hướng tới thống nhất một bộ tiêu chuẩn về điều kiện sống và làm việc cho tất cả các thành phần xã hội hiện tại và trong tương lai, đảm bảo thúc đẩy cơ hội, lợi ích từ phát triển đô thị một cách công bằng, do đó sẽ tạo ra tính hòa nhập và gắn kết xã hội. Quy hoạch đô thị phải tạo ra một khoản đầu tư cần thiết trong tương lai bao gồm việc tôn trọng, bảo tồn các di sản, và đa dạng văn hóa, cũng như thừa nhận nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng khác nhau. Đó là mục tiêu nhằm cải thiện chất lượng sống và thành công cho tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập. Chất lượng cung cấp dịch vụ đô thị. Các dịch vụ đô thị bao gồm giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường không gian sinh hoạt và nơi dân cư sinh sống. Chất lượng phản ánh vào mức độ tập trung bao phủ (địa lý), khả năng tiếp cận (vị trí, khoảng cách), khả năng chi trả (giá) và lợi ích so với chi phí (thông thường, sẽ có sự trao đổi để cân bằng tùy thuộc vào tình trạng kinh tế - xã hội của các vùng lân cận).

-Về bảo vệ môi trường: Chiến lược đa mục tiêu tạo ra 1 bộ khung không gian gồm tài nguyên thiên nhiên, đất đai, hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinh thái xã hội (đô thị, khu dân cư, cộng đồng dân cư…) để bảo vệ và phát huy giá trị môi trường tự nhiên, văn hóa - xã hội. Quy hoạch đô thị tạo ra 1 bộ khung không gian đảm bảo xã hội đô thị thích ứng với vấn đề về thiên tai, biến đổi khí hậu, giảm thiểu thiệt hại, tăng cường khả năng thích ứng, tạo ra công cụ cải thiện công tác quản lý các nguy cơ từ tai biến thiên nhiên và môi trường. Chiến lược bền vững về môi trường, hiệu quả sử dụng năng lượng của thành phố: vấn đề môi trường và năng lượng theo hai cách: (i) như “một phần thêm vào” chiến lược tổng thể trong đó kinh tế và không gian là mối quan tâm chính; và (ii) như là một chủ đề cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng môi trường thông thường. Khi chi phí dành cho năng lượng tăng, các nguồn nước ngọt bị tổn thương, đô thị lan rộng, các chi phí liên quan đến lưu thông, và tần suất thiên tai tăng lên ở nhiều thành phố, môi trường và năng lượng. Xây dựng các dịch vụ cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như hệ thống cống hay mạng lưới trung chuyển, là một nhiệm vụ quan trọng đối với các thành phố. Chi phí năng lượng ảnh hưởng đến hầu hết các sản phẩm và dịch vụ tại một thành phố, cũng như ảnh hưởng đến mức sống của các hộ gia đình, đặc biệt là người nghèo. Một CDS hiệu quả nên đưa ra được những kiến nghị để khuyến khích việc sử dụng năng lượng hiệu quả trong các quá trình công nghiệp, xây dựng và sử dụng (các tòa nhà xanh), tiêu dùng gia đình và các hình thái sử dụng khác ở đô thị.

Tham khảo:

  1. Đề án đổi mới phương pháp luận quy hoạch và quản lý phát triển đô thị VIUP - Bộ Xây dựng, 2018.

  2. Đề tài đối mới toàn diện phương pháp lập quy hoạch đô thị tại Việt Nam.

  3. NCS. Lê Kiều Thanh (Trưởng nhóm CDS Hạ Long) Chiến lược phát triển cho đô thị vừa và trung bình (tại Hạ Long và Cần Thơ), VIUP-Bộ Xây dựng và Ngân hàng Thế giới, 2007.

  4. ThS.KTS. Lê Kiều Thanh (Chuyên gia về chiến lược phát triển không gian) Chiến lược Phát triển thành phố có sự tham gia của cộng đồng tại 7 thành phố của Việt Nam.

  5. ThS.KTS. Lê Kiều Thanh, chủ nhiệm nghiên cứu Hỗ trợ quá trình và thúc đẩy thể chế hóa CLPTTP ở cấp Quốc gia, VIUP-UN Habitat 2016.

  6. GS.TS.KTS. Lê  Hồng Kế, 1990.Những vấn đề cấp bách về hệ sinh thái đô thị - nông thôn, bảo vệ môi trường sống trong quá trình đô thị hóa Việt Nam.

  7. VIUP 2012-JICA. Xây dựng năng lực lập quy hoạch và quản lý đô thị.

  8. PGS.TS. Trần Trọng Hanh, Nghiên cứu đề xuất cơ chế phối hợp lồng ghép, hài hòa hóa quy hoạch đô thị và các quy hoạch ngành.

  9. VIUP-JICA-UBND thành phố Hải Dương. Dự án thí điểm áp dụng phương pháp lập quy hoạch tổng thể mới tại thành phố Hải Dương, 2012.

  10. VIUP-2018, Điều chỉnh định hướng QHTT hệ thống đô thị Việt Nam có tính đến yếu tố biến đổi khí hậu đến 2035.

  11. ADB-Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam.

(Nguồn:NCS.KTS. Lê Kiều Thanh - Tạp chí quy hoạch số 93)
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website