Hệ thống chỉ tiêu Cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia – Công cụ kiểm soát hiệu quả trong quản lý phát triển đô thị

I. Sự cần thiết phải có hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia. Như chúng ta đều biết, để đánh giá sức khỏe của một con người, trong y học đã dùng các chỉ số, thông qua các chỉ số biết được tình hình sức khỏe tốt hay đang có những vấn đề cần phải quan tâm. Đối với các đô thị cũng như vậy, rất cần một bộ chỉ số để đo “Sức khỏe của đô thị”, vì vậy ngay từ những năm 1990, các tổ chức quốc tế đã ban hành các bộ chỉ số đô thị để hướng dẫn cho các nước tham khảo học tập như: Chương trình Chỉ số đô thị (1993), Bộ chỉ số dự án đô thị lành mạnh (1992), Bộ chỉ số các đô thị bền vững (1998), Bộ chỉ số đô thị toàn cầu (2007)…

Ở nước ta trong những năm gần đây, một số tổ chức quốc tế đã hợp tác để xây dựng các bộ chỉ đánh giá đô thị như: Bộ chỉ số quan trắc đô thị (2009) và Bộ chỉ số đô thị thịnh vượng (2015) do UNHABITAT hỗ trợ, Bộ chỉ số đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu do quỹ Rockefeller  hỗ trợ (2017). Năm 2016, Bộ Xây dựng, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với UNHABITAT nghiên cứu bộ chỉ số có tên gọi “Chuẩn hóa Bộ chỉ số đô thị Việt Nam - Phiên bản 1”.  

Các bộ chỉ số được xây dựng vừa qua là các đề xuất rất quan trọng nhưng để đi vào thực tiễn và đáp ứng cho các đô thị có khả năng tự theo dõi từ cấp Trung ương đến cấp địa phương, giúp Nhà nước và Bộ Xây dựng có thể so sánh, đánh giá hàng năm mang tính khả dụng, khả thi và bền vững thì rất cần phải được nghiên cứu đầy đủ hơn. Theo yêu cầu đó, năm 2016, căn cứ vào  Hiệp định được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA), dự án  MOC-02 có tên gọi “Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia” là một trong những nội dung của Hiệp định đã được thực hiện với sự chỉ đạo của Cục Phát triển đô thị - Bộ Xây dựng (UDA).

II. Yêu cầu đối với Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia.

Mục tiêu xây dựng Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia là để từ đó UDA và các đô thị có thể lên kế hoạch và quản lý hiệu quả sự phát triển đô thị trong tương lai và đo lường tính hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách quốc gia và thỏa mãn nhu cầu của người dân. Vì vậy, Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia cần phải có các chỉ số để phản ánh được các thông tin: Tình hình đô thị hóa (vd: dân số, sử dụng đất hiện tại và quy hoạch); Các mức thu nhập và nghèo đói (vd: thu nhập trung bình trên đầu người, các hộ thu nhập thấp); Tình hình cơ sở hạ tầng xã hội (vd: nhà ở, trường học, bệnh viện, trung tâm văn hóa); Tình hình cơ sở hạ tầng kỹ thuật (vd: giao thông cấp 1, 2 và 3, số hộ gia đình được đấu nối với nguồn cung cấp điện và nước); Tình hình và diễn biến đầu tư cho phát triển và gắn kết giữa không gian, quy hoạch và mức vốn (vd: các dự án ODA, các đầu tư trong nước và đầu tư địa phương); Chất lượng môi trường (vd: ô nhiễm, lũ lụt, tỉ lệ các hộ gia đình có thu gom rác thải).

Với yêu cầu nêu trên, Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia đã được xây dựng đáp ứng 5 quan điểm sau đây:

1. Phản ánh đúng tình hình thực tế phát triển tại các đô thị Việt Nam về các vấn đề cơ bản của đô thị trong xây dựng và quản lý đô thị.

2. Được xây dựng có tính kế thừa, lồng ghép với các chính sách quản lý và phát triển đô thị,

3. Có sự tham khảo các bộ chỉ số đô thị quốc tế tốt nhất.

4. Phải bảo đảm tính khoa học.

5. Cần tăng cường tính chủ động của các đô thị, sự phối hợp giữa các ngành và các bên liên quan.

Từ 5 quan điểm đó, Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia đã đề xuất  bao gồm 90 chỉ tiêu, trong đó:

Nhóm chỉ tiêu 1 - Đô thị hóa: gồm 19 chỉ tiêu

Nhóm chỉ tiêu 2 - Thu nhập và nghèo đói: gồm 9 chỉ tiêu

Nhóm chỉ tiêu 3 - Cơ sở hạ tầng xã hội: gồm 14 chỉ tiêu

Nhóm chỉ tiêu 4 - Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: gồm 22 chỉ tiêu

Nhóm chỉ tiêu 5 - Môi trường và biến đổi khí hậu: gồm 13 chỉ tiêu

Nhóm chỉ tiêu 6 - Đầu tư và quản trị đô thị: gồm 13 chỉ tiêu

Như vậy số lượng và nội dung các chỉ tiêu trong mỗi nhóm cần đảm bảo tính cân đối với nhau và đáp ứng được một cách toàn diện việc phản ánh tình hình của đô thị.

Một yêu cầu quan trọng đối với  Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia là phải đảm bảo : Tính Khả dụng (các chỉ tiêu là rất cần thiết); Khả thi  (có thể thu thập được số liệu) và Bền vững (sau khi dự án hoàn thành vẫn thu thập được số liệu). Để đáp ứng yêu cầu này, Hệ thống  chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia cần phân theo 3 lộ trình:

Lộ trình A: Là những chỉ số có khả năng thu thập được ngay trong giai đoạn thực hiện dự án MOC-02 (kết thúc năm 2018).

Lộ trình B: Là những chỉ số chỉ có khả năng thu thập sau Lộ trình A từ 2 - 3 năm.

Lộ trình C: Là những chỉ số chỉ có khả năng thu thập sau Lộ trình A từ 4 - 5 năm.

Trên cơ sở 90 chỉ tiêu, thời điểm hiện tại, giai đoạn 1 (Lộ trình A) đã lựa chọn được 38 chỉ tiêu gắn với 6 nhóm thông tin. Việc lựa chọn 38 chỉ tiêu trong 90 chỉ tiêu dựa trên 3 tiêu chí như: Các chỉ tiêu phải bao quát được cả 06 nhóm thông tin; Ưu tiên các chỉ tiêu có sẵn thu thập được từ Cục Thống kê và Chi cục Thống kê; Ưu tiên các chỉ tiêu có khả năng thu thập định kỳ ở đô thị và ngành Xây dựng. Kết quả Hệ thống danh mục chỉ tiêu cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia lộ trình A được thể hiện ở bảng 1 dưới đây:

 

Bảng 1. Danh mục 38 Chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia  

Nhóm

chỉ tiêu

Số TT

Mã số

Các chỉ tiêu

 
 
 

1. Đô thị hóa

 

 

1.1. Quy mô diện tích

 

1

A0101

Diện tích đất đô thị (km2)

 

2

A0102

Diện tích đất khu vực nội thành hoặc nội thị (km2)

 

3

A0103

Tỷ lệ hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp (%)

 

 

 

1.2. Quy mô dân số

 

4

A0104

Dân số đô thị (1000 người)

 

5

A0105

Mật độ dân số đô thị (người/km2)

 

6

A0106

Dân số khu vực nội thành hoặc nội thị (1000 người)

 

7

A0107

Mật độ dân số khu vực nội thành hoặc nội thị (người/km2)

 

2. Thu nhập và nghèo đói

 

 

2.1. Thu nhập

 

8

A0201

Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn (%)

 

9

A0202

Tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người năm so với cả nước (%)

 

 

 

2.2. Việc làm và nghèo đói

 

10

A0203

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (%)

 

11

A0204

Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (%)

 

12

A0205

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

 

13

A0206

Tỷ lệ hộ dân cư nghèo (%)

 

3. Cơ sở hạ tầng xã hội

 

 

3.1.Nhà ở

 

14

A0301

Diện tích nhà ở bình quân đầu người (m2/người)

 

15

A0302

Tổng diện tích nhà ở xã hội trên địa bàn (m2)

 

 

 

3.2. Công trình công cộng, văn hóa, xã hội

 

16

A0303

Diện tích đất cây xanh công cộng bình quân đầu người khu vực nội thành hoặc nội thị (m2/người)

 

17

A0304

Số giường bệnh bình quân trên 10.000 dân (giường bệnh) (không tính số giường tại các trạm y tế xã/phường/thị trấn, cơ quan)

 

18

A0305

Số cơ sở giáo dục, đào tạo từ trung học phổ thông trở lên (cơ sở)

 

19

A0306

Số lượng công trình văn hóa (công trình)

 

20

A0307

Số lượng công trình thể dục, thể thao (công trình)

 

21

A0308

Số lượng chợ, siêu thị, trung tâm thương mại (công trình)

 

4. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

 

 

4.1.Giao thông

 

22

A0401

Mật độ đường giao thông tính đến đường có chiều rộng phần xe chạy ≥ 7,5m (km/km2)

 

23

A0402

Diện tích đất giao thông tính trên dân số (m2/người)

 

24

A0403

Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng (%)

 

 

 

4.2.Cấp nước đô thị

 

25

A0404

Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung (%)

 

 

 

4.3.Chiếu sáng và phòng chống cháy nổ

 

26

A0405

Tỷ lệ chiều dài đường đô thị được chiếu sáng (%)

 

27

A0406

Số vụ cháy, nổ và mức độ thiệt hại (số vụ, người, triệu VND/ năm)

 

 

 

4.4. Viễn thông

 

28

A0407

Số thuê bao internet trên 100 dân (Số lượng /100 dân)            

 

 

5. Môi trường      và BĐKH

 

 

 

5.1. Chất lượng môi trường

 

29

A0501

Tỷ lệ các khu vực ngập úng có giải pháp phòng chống, giảm ngập úng (%)

 

30

A0502

Tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý (%)

 

31

A0503

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý (%)

 

 

 

5.2. Biến đổi khí hậu

 

32

A0504

Địa phương đã xây dựng kế hoạch tăng trưởng xanh và ứng phó với BĐKH hàng năm (có/không) (Tên văn bản kèm theo)

 

33

A0505

Số đơn vị hành chính cấp xã chịu thiệt hại trực tiếp do biến đổi khí hậu (đơn vị)

 

34

A0506

Số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại (số vụ, người, triệu VND/ năm)

 

6. Đầu tư và quản trị đô thị

 

 

6.1. Đầu tư phát triển đô thị

 

35

A0601

Tổng số dự án và tổng diện tích dự án đầu tư phát triển đô thị (số dự án; km2).

 

36

A0602

Tỷ lệ chi đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật (%)

 

 

 

6.2. Quản trị đô thị

 

37

A0603

Tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu (%)

 

38

A0604

Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 2 trở lên thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp huyện (%)

 

Để những cán bộ làm công tác thu thập số liệu ở các đô thị cũng như các cơ quan quản lý của Bộ Xây dựng hiểu thống nhất về Danh mục dữ liệu, mỗi chỉ tiêu đã được giải thích chi tiết bao gồm các nội dung:

  • Các biến số cần thu thập và phương pháp tính
  • Kỳ công bố; nguồn số liệu; đơn vị thu thập và tổng hợp số liệu
  • Khái niệm
  • Ý nghĩa của chỉ tiêu

III. Kết quả  và các vấn đề đặt ra đối với Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia.

Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia được kết nối với một phần mềm thân thiện dễ sử dụng để giúp cho công tác quản lý được chính xác và nhanh chóng.

- Đối với các đô thị: thông qua các chỉ tiêu và phần mềm, đô thị có thể nhận biết được hiện trang thực tế của mỗi lĩnh vực đang ở mức độ nào, chỉ tiêu nào đã đạt được so với quy định và chỉ tiêu nào còn hạn chế cần phải tiếp tục cải thiện. Đồng thời cũng có thể biết đô thị mình đang ở đâu so với tình hình chung của các đô thị khác trong vùng, trong cùng loại và trong cả nước.

- Đối với các cơ quan quản lý như Cục Phát triển Đô thị - Bộ Xây dựng: là cơ quan quản lý Nhà nước chịu trách nhiệm “giám sát, tổng hợp, đánh giá và báo cáo tình hình phát triển đô thị trên toàn quốc; thiết lập, kiểm soát cơ sở dữ liệu đô thị và cung cấp thông tin về phát triển đô thị”, nên việc hình thành Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia được kết nối với một phần mềm sẽ giúp công tác quản lý ngày một hiệu quả.  

Trong thời gian tới, dưới sự chỉ đạo của UDA, các bên liên quan sẽ tổ chức đào tạo cho đại diện 20 đô thị thí điểm cũng như một số cán bộ thuộc các đơn vị quản lý của Bộ Xây dựng giúp nắm bắt được việc thu thập dữ liệu và cập nhật các dữ liệu đó vào phần mềm để quản lý khai thác.

Hiện tại, Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia mới chỉ  tiến hành khảo sát tại 20 đô thị thí điểm và số lượng mới là 38 chỉ tiêu. Trong định hướng tiếp theo, UDA sẽ chỉ đạo để tiến hành thu thập các đô thị từ loại IV trở lên, có nghĩa là trên 150 đô thị. Về lâu dài sẽ là các đô thị trong cả nước với số lượng lên tới trên 800 đô thị và các chỉ tiêu lên tới 90 chỉ tiêu hoặc cao hơn (vì đây là phần mềm được thiết kế mở với sự thay đổi chỉ tiêu tùy theo yêu cầu quản lý). Như vậy, Hệ thống cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia là một công cụ quản lý phát triển đô thị rất hiệu quả. Tuy nhiên điều này cũng đòi hỏi năng lực của cán bộ trong công tác quản lý phát triển đô thị của các cấp phải được nâng cao và đặc biệt  là trách nhiệm của chính quyền các đô thị trong việc quản lý đầy đủ và chuẩn xác số liệu của đô thị mình.

Với trách nhiệm quản lý Nhà nước về lĩnh vực quản lý phát triển đô thị, Bộ Xây dựng sẽ ban hành văn bản pháp lý để đưa Hệ thống chỉ tiêu cơ sở dữ liệu phát triển đô thị quốc gia đi vào thực tế.

(Nguồn:TS.KTS. Trần Quốc Thái - Tạp chí quy hoạch số 93)
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website