XÁC ĐỊNH TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÃNH THỔ THEO PHƯƠNG PHÁP ECOLOGY FOOTPRINT (EF) THÍCH ỨNG VỚI ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM

Chính phương pháp EF chỉ ra rằng, con người chúng ta đang sử dụng trên mức tài nguyên đất đai mà trái đất và giới hạn lãnh thổ của các quốc gia cho phép: Giới hạn cho phép là 1,8ha/người theo số liệu dân số toàn cầu năm 2008. Nhưng sau khi tính toán, trung bình toàn cầu chúng ta đang sử dụng 2,2ha/người. Nếu như tất cả chúng ta muốn sống như người Mỹ thì phải cần đến hơn 5 quả đất, như người Đức hay người Pháp cần đến 3 quả đất. Quốc tế cũng có rất nhiều chỉ trích nhằm vào những nước đang phát triển như Trung Quốc hay Ấn Độ khi bùng nổ kinh tế với tốc độ phát triển quá nóng làm tổn hại nặng nề môi trường sống. Tuy nhiên phương pháp này chỉ ra rằng: những nước này lại chỉ cần đến 1 hoặc thậm chí dưới 1 quả đất với lối sống hiện nay của họ. Bài viết này muốn đưa một thông điệp về tính toán sức mang của các loại tài nguyên đất trong quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch kinh tế-xã hội, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.

I.Lý thuyết về đánh giá tiềm năng phát triển theo phương pháp EF

Phương pháp footprint - Là cách tính toán cụ thể và tiên tiến nhất hiện nay mà các quốc gia phát triển sử dụng để đánh giá mức độ phát triển bền vững. Trong Quy hoạch sử dụng đất, quá trình này được nhận dạng rõ qua các biểu hiện sau:

  • Các khu định cư nông nghiệp lâu đời hiện nay đều được khai thác quá công suất khi cộng sinh với các khu ở mới trong đô thị hóa rộng khắp ở Việt Nam, lớn hơn rất nhiều so với khả năng và quy mô thực tế mà nó có được (Tính theo tài nguyên, sự tiêu thụ và chất thải của nó). Hiện tượng này khiến các nhà hoạch định chính sách khó kiểm soát được sử dụng đất mộ cách hiệu quả và tương lai của nó. Việc chiếm dụng đất nông nghiệp làm đô thị mới chưa bao giờ dựa trên các nghiên cứu khoa học về phát triển bền vững tài nguyên đất đai và tài nguyên nông nghiệp trong tương lai xa của dân tộc - vốn dựa trên nền của văn minh lúa nước để tồn tại và phát triển lâu dài.
  • Cần đến các phương pháp mới để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất theo các tiêu chí quốc tế và quốc gia có thể định lượng được. Các phương pháp đó gắn với hoàn cảnh cụ thể của tự nhiên và xã hội, con người tại chỗ, thông qua các số liệu khảo sát tại chỗ.
  • Hiện nay thế giới đang dùng hai phương pháp chính để đánh giá tính bền vững của các mô hình định cư đô thị và nông thôn như sau:
  1. Đánh giá thông qua định lượng khí thải CO2 - Là cách được bàn đến nhiều nhất khi đánh giá tác động tới môi trường, tài nguyên của đô thị, đặc biệt thích hợp với các đô thị đã phát triển cao, có quy định các chỉ tiêu về hiệu ứng nhà kính và khí thải. Nhưng đối với các nước đang phát triển thì khó áp dụng được vì phần lớn các khu định cư ở đây đều có khí thải dưới tiêu chuẩn, nhưng vẫn không bền vững về môi trường sống.
  2. Đánh giá bằng Phương pháp Ecological Footprint (EF) theo sử dụng đất - Phương pháp Ecological Footprint (EF - lược dịch: “dấu chân sinh thái”) về cơ bản là một phương pháp định lượng hoá mức độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của một mô hình xã hội nhằm đánh giá một cách toàn diện tính bền vững của mô hình đó. Đây là cách tiếp cận mới nhất để đánh giá toàn diện tính bền vững các mô hình định cư.

+ Sức gánh chịu sinh thái của Trái Đất được tính theo chỉ số phân tích sinh thái bình quân đầu người (ecological footprint anlalysis), gọi tắt là chỉ số sinh thái bình quân. Đối với mỗi quốc gia, người ta tính tổng diện tích đất đai và mặt nước của các hệ sinh thái có để sản xuất tất cả các nguồn lực cộng với diện tích đất đai và mặt nước đủ để hấp thụ mọi chất thải phát sinh trong đời sống. Các vùng có sức sản xuất sinh học để tính chỉ số sinh thái bình quân là đất trồng trọt, đồng cỏ, rừng, đại dương, đất xây dựng và đất chôn lấp giá trị môi trường (được tính trên cơ sở đất cần cho hấp thụ và đồng hoá cacbon điôxit, các chất thải do đốt nhiên liệu hoá thạch và do con người thải ra môi trường).

+ Phương pháp EF được hai người Canada là William Rees và Mathis Wackernagel đề xuất năm 1996 trong cuốn sách “Our ecological footprint: Reducinghuman impact on the Earth”. Sau đó được hai GS. Valer và Brenda phát triển ứng dụng cho kiến trúc và quy hoạch đô thị ở Đại học Cambrige và Auckland. Ở những nước giàu phương pháp này được sử dụng ngay để tính toán công suất tối đa của lãnh thổ và quy mô dân số thích ứng, như Cardiff - Anh; Olso - Nauy; Australia; NewZeland; Canada; Phần Lan, Thuỵ Điển, Mỹ... Đó là một hệ thống tính toán và diễn đạt về những tác động nhiều mặt tới môi trường sống (Sơ đồ 1). Nó cho phép đưa ra các chỉ tiêu biểu đạt tinh tế về Hệ thống tính toán nhằm sử dụng tài nguyên đất và con người của lãnh thổ một cách hiệu quả, thông minh và bền vững.

Hiện nay EF là một trong những phương pháp đánh giá độ bền vững được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, nhất là đối với những mô hình định cư trên nhiều cấp độ từ vĩ mô đến vi mô.

Mô tả chung về phương pháp EF: bao gồm 2 thành phần số liệu tính toán cho sử dụng đất chính sau:

* Land footprint: bao gồm đất để trồng trọt, chăn nuôi, rừng, thuỷ sản, đất xây dựng (trong đó có đô thị và nông thôn), xây dựng hạ tầng kỹ thuật.

* Energy footprint được gọi là Carbon footprint: đây là đất dành cho năng lượng, hiện tại được tính toán bằng diện tích rừng để hấp thụ khí thải CO2, được thải ra do tiêu thụ năng lượng trong sinh hoạt và sản xuất.

Khả năng áp dụng EF trong tính toán tiềm năng phát triển của các quần thể cư trú đô thị và nông thôn ở Việt Nam:

  • EF thường tập trung phân tích các quần thể cư trú con người hay một nền kinh tế. Tất cả đất sản xuất và diện tích nước yêu cầu cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ liên tục và xử lý chất thải phát sinh ra được tính chung vào dấu ấn sinh thái. Đó là một phần lý do mà ngày nay khi nói trong nông nghiệp hay các họat động khác được xem là phát triển bền vững là không chính xác vì nó chưa tính hết các thành phần của dấu ấn sinh thái. Đó cũng là lý do EF hiện nay được sử dụng rộng rãi tại các quốc gia tiên tiến.
  • Sử dụng EF cho các hoạt động và các sản phẩm, dịch vụ sẽ trở nên phổ biến khi phương pháp luận được mở rộng cho các đánh giá về phát thải.
  • Các phép tính này này có thể được dùng để tính toán cho những mô hình sống trên nhiều cấp độ:
  • Phép đo EF chuyển đổi các diện tích có khả năng cung cấp năng suất sinh học sang đơn vị chuẩn hecta toàn cầu (gha).
  • Các quốc gia sử dụng các tiêu chuẩn dưới đơn vị gha như các chuẩn mực để đánh giá và định hướng họat động nhằm vừa phục vụ lợi ích của con người mà không làm ảnh hưởng tới các hệ sinh thái trên hành tinh.
  • Trên cơ sở các số liệu về diện tích các lọai đất đai cho năng suất sinh học, lượng tiêu thụ, sản lượng trung bình toàn cầu và các hệ số cân bằng, người ta có thể tính ra được chỉ số EF cho toàn cầu, một đất nước, một vùng kinh tế, một thành phố, một khu dân cư, thậm chí một cá nhân
  • Nhờ công cụ EF mà chúng ta có thể đánh giá được mức độ bền vững của phát triển. Chúng ta có thể định lượng được diện tích đất và mặt biển cho năng suất sinh học trên trái đất có khả năng giúp loài người tồn tại. Từ đó cũng có thể tính ra được sự phân chia nguồn tài nguyên cho mỗi con người.

Phạm vi áp dụng của EF: Áp dụng trong chính sách quản lý tài nguyên và môi trường, cũng như cân đối sử dụng đất để đánh giá độ bền vững các mô hình định cư truyền thống và các mô hình định cư sẽ phát triển khác. Trong phát triển đô thị bền vững, EF cho phép đưa các số liệu tính toán thông qua sử dụng đất, lối sống và sự ứng xử của con người với tài nguyên. Do vậy, nó là công cụ hữu ích trong xây dựng chiến lược quốc gia về lập quy hoạch xây dựng, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội. Và hơn nữa, EF được sử dụng để đánh giá tính bền vững các mô hình định cư trong thời kỳ biến đổi khí hậu và đô thị hoá, đây là cách đánh giá thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.

3-Đánh giá và phân tích hiệu quả sử dụng đất để đưa ra kịch bản phát triển bằng Phương pháp EF:

  • EF thường tập trung phân tích các quần thể người hay nền kinh tế. Tất cả đất sản xuất và diện tích nước yêu cầu cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ liên tục và xử lý chất thải phát sinh ra được tính chung vào dấu ấn sinh thái. Đó là một phần lý do mà ngày nay khi nói trong nông nghiệp hay các hoạt động khác được xem là phát triển bền vững là không chính xác vì nó chưa tính hết các thành phần của dấu ấn sinh thái. Đó cũng là lý do EF hiện nay được sử dụng rộng rãi tại các quốc gia tiên tiến.
  • Sử dụng EF cho các hoạt động và các sản phẩm, dịch vụ sẽ trở nên phổ biến khi phương pháp luận được mở rộng cho các đánh giá về phát thải.
  • Các phép tính này này có thể được dùng để tính toán cho những mô hình sống trên nhiều cấp độ:
  • Phép đo EF chuyển đổi các diện tích có khả năng cung cấp năng suất sinh học sang đơn vị chuẩn hecta toàn cầu (gha).
  • Các quốc gia sử dụng các tiêu chuẩn dưới đơn vị gha như các chuẩn mực để đánh giá và định hướng họat động nhằm vừa phục vụ lợi ích của con người mà không làm ảnh hưởng tới các hệ sinh thái trên hành tinh.
  • Trên cơ sở các số liệu về diện tích các loại đất đai cho năng suất sinh học, lượng tiêu thụ, sản lượng trung bình toàn cầu và các hệ số cân bằng, người ta có thể tính ra được chỉ số EF cho toàn cầu, một đất nước, một vùng kinh tế, một thành phố, một khu dân cư, thậm chí một cá nhân.
    • Nhờ công cụ EF mà chúng ta có thể đánh giá được mức độ bền vững của phát triển. Chúng ta có thể định lượng được diện tích đất và mặt biển cho năng suất sinh học trên trái đất có khả năng giúp loài người tồn tại. Từ đó cũng có thể tính ra được sự phân chia nguồn tài nguyên cho mỗi con người.
    • Phương pháp EF có nhiều lợi thế so với các phương pháp tính khác như Life- cycle Analysis và Carbon Footprint trong việc đánh giá tổng hợp, so sánh các mô hình định cư, cũng như hoạch định chiến lược phát triển cụ thể. Đây là phương pháp tính khá đơn giản và hiệu quả, dễ áp dụng trong điều kiện Việt Nam.
    • Theo đánh giá ban đầu, dựa trên các nguồn tài liệu tham khảo, khả năng tổng hợp số liệu, độ phức tạp của phương pháp tính,... có thể tổng hợp, xây dựng phương pháp tính và tìm kiếm số liệu để tính toán cho các mô hình định cư trong phạm vi của đề tài mà cụ thể là 7 địa điểm tại 3 vùng kinh tế trọng điểm đã được lựa chọn.

4. Các biến thể của phương pháp tính EF

  • Có khá nhiều những tranh cãi và biến thể của phương pháp tính chỉ số EF trong các nghiên cứu khác nhau. Các ví dụ bao gồm phương pháp tính diện tích biển, bù trừ sự sử dụng năng lượng hoá thạch và năng lượng nguyên tử (ví dụ rất nhiều nghiên cứu chỉ đơn giản mặc định rằng năng lượng nguyên tử có cùng chỉ số EF với năng lượng hoá thạch) (nguồn: Wikipedia), nguồn số liệu đầu vào, các chỉ số nào cần tính toán đối với mỗi vùng địa lý cụ thể, có đưa vào các yếu tố về đa dạng sinh học hay không, có nên tính toán thêm cả yếu tố xuất/nhập khẩu hay không,...
  • Năm 2003, Jason Venetoulis, Carl Mas, Christopher Gaudet, Dahlia Chazan, và John Talberth phát triển Footprint 2, bao gồm nhiều cải tiến về lý thuyết và phương pháp tính so với phương pháp tiêu chuẩn.
  • Tuy nhiên, với việc các tiêu chuẩn footprint (footprint standards) được thiết lập, các phương pháp tính đang có xu hướng đồng quy.
  • Hiện nay, Global Footprint Network là tổ chức lớn và chính thống nhất trong việc phát triển phương pháp EF và nhân rộng sự áp dụng của phương pháp này.
  • Global Footprint Network là một Viện chính sách có trụ sở tại Mỹ, Thụy Sỹ và Bỉ. Hoạt động của nó xoay quanh phương pháp EF với mục đích hướng tới tương lai bền vững cho loài người. Mạng lưới này gồm hơn 70 tổ chức thành viên bao gồm WWF International, Sarasin bank, Pictet bank, British think tank, New Economics Foundation, và UK consultancy Best Foot Forward. Năm 2012 được xếp vào Top 100 các tổ chức NGOs (theo Global Journal).
  • Theo kế hoạch của họ tới năm 2015 sẽ có 10 nước chính thức sử dụng phương pháp EF.
  • Global Footprint Network cũng là tổ chức đặt ra các footprint standards (tiêu chuẩn hoá phương pháp tính EF trên toàn thế giới) hiện đang được chấp nhận rộng khắp.
  • Phương pháp tính của Global Footprint Network sẽ là nguồn tham khảo chính cho đề tài.
  • Phương pháp tính EF trên cấp độ quốc gia được đề cập đến trong Footprint Atlas 2010 và một số ấn phẩm khác bao gồm Calculation Methodology for the National Footprint Accounts và một số báo cáo khoa học khác. Global Footprint Network còn có National Accounts Review Committee nhằm nghiên cứu cải tiến phương pháp EF.

II.Đề xuất phương pháp tính cơ bản cho Việt Nam:

1.Phân loại các diện tích đất cho năng suất sinh học

Với mục đích tính EF, các diện tích cho năng suất sinh học được chia thành 5 dạng cơ bản (Xem Hình 1):

  • Diện tích cho năng suất sinh học (đất canh tác, đồng cỏ chăn nuôi, đất rừng, các thủy vực,…).
  • Diện tích mặt nước cho năng suất sinh học.
  • Diện tích cung cấp năng lượng (đất rừng cần để hấp thu lượng CO2 phát thải hoặc cung cấp năng lượng sinh khối).
  • Diện tích xây dựng (nhà cửa, đường,…).
  • Diện tích đa dạng sinh học, là diện tích đất cần để duy trì đa dạng sinh học.

2.Các thông số chính cho sử dụng đất:

Phương pháp EF sử dụng 6 thông số/thành phần chính để đánh giá mức độ bền vững của các mô hình định cư:

Dấu chân diện tích canh tác (Cropland): tính cho một cá nhân là diện tích cần thiết để tạo ra toàn bộ sản phẩm mùa màng mà cá nhân đó tiêu thụ.

Dấu chân diện tích đồng cỏ chăn nuôi, trồng trọt (Grazing land): diện tích đủ để cung cấp thịt, các sản phẩm bơ sữa, da và lông, nhưng các vật nuôi này không tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp mà cư trú lâu dài trên các đồng cỏ.

Dấu chân diện tích rừng (Forest land): diện tích cần thiết để tạo ra các sản phẩm gỗ mà người đó tiêu thụ.

Dấu chân diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản (Fishing ground): diện tích cần thiết để tạo ra được các sản phẩm cá và thủy hải sản khác mà người đó tiêu thụ.

Dấu chân diện tích xây dựng (Built-up land): là diện tích cần để cá nhân đó xây dựng nhà ở, khu vui chơi, công sở,… cần thiết phục vụ đời sống.

Dấu chân CO2 (Carbon footprint): là diện tích cần để hấp thụ toàn bộ lượng CO2 phát thải từ các hoạt động tiêu thụ năng lượng của người đó.

3.Đơn vị tính

  • Để thuận lợi cho việc so sánh khả năng cho năng suất sinh học giữa các nước, các vùng..., phương pháp EF sử dụng đơn vị global ha (gha), là một dạng đơn vị diện tích chuyển đổi. Đơn vị này được sử dụng xuyên suốt quá trình tính toán.
  • Để 1gha = 1ha khoảng không gian cho năng suất sinh học bằng mức trung bình thế giới. Do mỗi dạng đất có năng suất khác nhau, nên 1gha sẽ tương đương với số ha khác nhau.

4.Phương pháp tính và Công thức

Như đã nói ở trên, về cơ bản phương pháp EF là một phép so sánh giữa nhu cầu của con người (Ecological Footprint - EF) với sức tải sinh học (Biocapacity - BC). Do đó, ngoài việc tính toán EF ta cần phải tính BC như một tiêu chuẩn để đánh giá độ bền vững của một mô hình sống:

  • Nhu cầu tiêu thụ của mô hình sống được thể hiện qua chỉ số Ecological Footprint of Consumption: là tổng hợp của 6 thông số đề cập trên đây.
  • Sức tải sinh học là khả năng của hệ sinh thái của mô hình sống đó trong việc tạo ra vật chất sinh học hữu dụng và hấp thụ chất thải, được thể hiện qua chỉ số Total Biocapacity. Chỉ số này là tổng trữ lượng của 5 loại đất tương ứng với các thông số đề cập trong mục 2, trừ Carbon Footprint).
  • Sự chênh lệch giữa Ecological Footprint of Consumption Total Biocapacity được gọi là Ecological (Deficit) or Reserve. Thông số này có thể âm hoặc dương - thể hiện sự bền vững hay không bền vững của mô hình sống (xem ví dụ trong Bảng 1).

- Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có công thức tính EF và BC khác nhau phụ thuộc vào điều kiện về sử dụng tài nguyên, lượng tiêu thụ hay số liệu có đủ không. Nhưng đều theo công thức chung như trong Sơ đồ 2.

III.Phân tích các loại diện tích đất cụ thể trong EF:

Như đã biết, dấu chân sinh học (EF) của một mô hình sống thể hiện nhu cầu của con người đối với hệ sinh thái (cụ thể là các sản phẩm sản xuất bởi các diện tích sinh học); trong khi sức tải sinh học (BC) thể hiện khả năng cung cấp tối đa của các loại diện tích tương ứng. Theo số liệu của GFN, năm 2008, tổng diện tích có thể sản xuất của trái đất (bao gồm cả diện tích đất và diện tích mặt nước) là 12 tỉ hecta. Sau khi nhân với hệ số cân bằng EQF, diện tích tương ứng tính bằng global hecta (gha) có sự khác biệt với diện tích thực tế tính bằng ha

1-Đất canh tác - Cropland

Đất canh tác bao gồm tất cả diện tích đất cần thiết để sản xuất các loại cây trồng, bao gồm cả thức ăn chăn nuôi, thức ăn cho cá, các sản phẩm chiết xuất dầu, cao su, ... Đất trồng là loại đất có đặc tính sinh học cao nhất, do đó có hệ số cân bằng EQF lớn nhất. Nói cách khác, diện tích đất canh tác tính theo gha lớn hơn so với diện tích thực tế tính bằng ha (Sơ đồ 9). Dấu chân sinh học của đất trồng (Cropland Footprint) bao gồm cả hoạt động sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu của các sản phẩm nông nghiệp cơ bản và thứ cấp. Dấu chân sinh thái của mỗi loại sản phẩm nông nghiệp chính là diện tích đất trồng phải sử dụng để sản xuất lượng sản phẩm cần thiết, với năng suất trung bình của thế giới.

Sức tải sinh học (BC) của đất canh tác thể hiện khả năng cung cấp tổng hợp của tất cả các loại đất được sử dụng để canh tác. Đối với 1 mô hình sống bền vững, EF của đất trồng nhất thiết không được vượt qua BC. Trên thực tế, đất canh tác có hiệu suất thu hoạch bằng với hiệu suất sinh trưởng, về thế Footprint của hoạt động sản xuất (EFP) của loại diện tích này không thể lớn hơn BC (Footprint tiêu thụ (EFC) vẫn có thể lớn hơn BC.

Tính toán EF (cụ thể là EFC) và BC của đất trồng cho một mô hình sống là phương pháp rất hiệu quả trong việc hoạch định chính sách phát triển. Ví dụ ta có thể thấy rõ ràng mô hình sống này có khả năng cung cấp lương thực cho toàn thể dân cư hay không? Nếu thiếu thì phải nhập khẩu bao nhiêu? Nếu thừa thì xuất khẩu bao nhiêu là đủ? Quá trình xuất nhập khẩu đó ảnh hưởng tới tính bền vững tổng thể như thế nào? Nên trồng loại cây lương thực gì, trên quy mô diện tích bao nhiêu?...

2-Đất đồng cỏ chăn nuôi - Grazing Land

Phương pháp tính đất chăn thả sinh thái tính toán trên diện tích đồng cỏ xác định làm nguồn cấp nguyên liệu cho chăn nuôi. Đất chăn thả này bao gồm tất cả các đồng cỏ được sử dụng để cung cấp thức ăn cho động vật, bao gồm đồng cỏ trồng cũng như các đồng cỏ tự nhiên và các cánh đồng. Đất chăn thả sinh thái tính toán theo Công thức 10, biểu hiện cho sản lượng trung bình NPP trên mặt đất cho đồng cỏ. Nhu cầu về đồng cỏ là số lượng sinh khối theo yêu cầu của chăn nuôi sau khi trừ nguồn cấp dữ liệu đang chiếm, theo công thức:

Tính toán đất chăn thả là phức tạp nhất trong các NFAs và đã cải tiến đáng kể trong bảy năm qua; bao gồm cải tiến cho nguồn cấp nguyên liệu, cá và động vật là thực phẩm được sử dụng như thức ăn chăn nuôi, và cung cấp lương thực cho vật nuôi (xem Ewing et al., 2010a để biết thêm chi tiết1). Tuy nhiên, nếu sản lượng đất chăn thả đại diện cho diện tích trên mặt đất sản xuất chính trong một năm không có số liệu đáng kể thì một thực tế khác là sự suy giảm về đất không được theo dõi bởi các phương pháp dấu chân sinh thái (Kitzes, 2009).

3-Đất thả cá - Fishing Grounds

Dấu chân sinh thái cho ngư nghiệp được tính dựa trên việc sản xuất hàng năm chính cần thiết để duy trì thu hoạch một loài thủy sản. Yêu cầu chính sản xuất này, ký hiệu PPR, là tỷ lệ khối lượng thu hoạch cá để sản xuất hàng năm chính cần thiết để duy trì thu hoạch một loài, dựa trên mức dinh dưỡng trung bình. Công thức 11 được sử dụng để tính toán PPR.

Sản xuất chính của về thủy sản được tính toán dựa trên ước tính thu hoạch bền vững hàng năm của nhóm 19 loài thủy sản khác nhau (Gulland, 1971). Các số liệu được chuyển đổi tương đương để sản xuất chính bằng cách sử dụng Công thức 11, và tổng số này cũng chính là thuỷ sản bền vững toàn cầu có thể thu hoạch. Do đó, yêu cầu mô hình sản xuất chính bền vững, PPS, được tính dưới dạng:

Trong bảy năm qua việc tính toán phần đánh bắt cá của NFAs đã cải tiến đáng kể, bao gồm nhiều loại cá khai thác và sản xuất nuôi trồng thủy sản, các loại cây trồng được sử dụng trong thủy sản (Ewing và ctv., 2010a).

4-Đất trồng rừng

Đất trồng rừng sinh thái tính toán dựa trên các biện pháp thu hoạch hàng năm của nhiên liệu gỗ và gỗ để cung cấp sản phẩm rừng. Năng suất được sử dụng trong đất trồng rừng sinh thái hàng năm tăng (NAI) tương ứng với lượng tiêu thụ gỗ/ha.Nguyên liệu sản xuất gỗ từ đánh giá của UNEC và FAO về tài nguyên rừng và các FAO toàn cầu dựa trên lượng cung cấp được sử dụng để tính toán năng suất trung bình của thế giới là

1.81 m3 gỗ hình/ha/năm (UNECE và FAO 2000; FAO NĂM 1998). NFAs tính toán đất trồng rừng sinh thái theo số lượng sản xuất của 13 gỗ sản phẩm chính và 3 gỗ nhiên liệu. Gỗ thương mại bao gồm 30 loại gỗ sản phẩm và 3 loại gỗ nhiên liệu.

5-Đất hấp thụ khí thải Carbon Footprint

Đất hấp thụ carbon Footprint là vùng đất duy nhất sử dụng trong các NFAs được dành riêng để theo dõi một sản phẩm chất thải: khí carbon dioxide. Ngoài ra, nó là vùng đất duy nhất sử dụng mà sức mang hiện nay không được xác định rõ ràng. Những hệ sinh thái khác nhau có khả năng để lưu trữ dài hạn CO2 khác nhau, bao gồm cả các loại đất sử dụng, ví dụ như đất trồng trọt hoặc đồng cỏ. Tuy nhiên, cacbon hấp thu trong sinh quyển xảy ra trong rừng, và để tránh vượt quá mức tính toán, cacbon hấp thu đất được giả định là (một tiểu thể loại của) đất trồng rừng tính bằng phương pháp footprint. Vì vậy, gỗ và gỗ nhiên liệu không được tách ra từ rừng trong tính toán sự hấp thu carbon.

CO2 được phát thải vào khí quyển từ nhiều nguồn, bao gồm các hoạt động của con người như đốt cháy nhiên liệu hóa thạch khác nhau và hoạt động trên đất khác; cũng như các hiện tượng tự nhiên như cháy rừng, núi lửa và hô hấp của động vật và vi khuẩn. Tương tự như Công thức 1, công thức cho các-bon dấu chân sinh thái (EFc) là:

6-Đất xây dựng - Built - Up Land

Đất xây dựng sinh thái được tính dựa trên vùng đất được bao phủ bởi cơ sở hạ tầng của con người: Đô thị và nông thôn, giao thông vận tải, nhà ở, công nghiệp cấu trúc và các hồ chứa để phát điện thủy điện. Phiên bản NFA 2011 giả định rằng quá trình xây dựng lên đất chiếm những gì trước đây đã có đất trồng trọt, ngoại trừ trong trường hợp chứng minh đất xây dựng lên đất không nằm trên đất trồng trọt (ví dụ như, trong United Arab Emirates- Abdullatif và Alam, năm 2011). Giả định này dựa trên các quan sát rằng khu định cư của con người thường nằm trong các khu vực màu mỡ với tiềm năng cho đất trồng trọt thu lợi nhuận cao (Imhoff et al., 1997; Wackernagel et al., 2002).

Vì thiếu dữ liệu toàn cầu trên các khu vực có hồ chứa thủy điện, nên phép tính NFAs giả định này để bao gồm nguồn đất sinh lợi theo xếp hạng của từng lĩnh vực. Xây dựng lên đất luôn luôn có một sức mang sinh thái của nó cả khi vì lợi nhuận mà làm thay đổi cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, các bước của sản xuất và các bước tiêu thụ xây dựng lên đất luôn luôn bình đẳng trong các NFAs như xây dựng lên đất thể hiện trong giao dịch mua bán hàng hoá hiện nay không bao gồm trong tính toán do thiếu dữ liệu. Thiếu sót này có thể gây thiếu hụt trong việc xây dựng mạng lưới xuất khẩu và nhập khẩu quốc gia.

Áp dụng EF trong chính sách quản lý tài nguyên và môi trường, cũng như cân đối sử dụng đất để đánh giá độ bền vững các mô hình định cư truyền thống và các mô hình định cư sẽ phát triển khác. Trong phát triển đô thị bền vững, EF cho phép đưa các số liệu tính toán thông qua sử dụng đất, lối sống và sự ứng xử của con người với tài nguyên. Do vậy, nó là công cụ hữu ích trong xây dựng chiến lược quốc gia về lập quy hoạch xây dựng, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội. Và hơn nữa, EF được sử dụng để đánh giá tính bền vững các mô hình định cư trong thời kỳ biến đổi khí hậu và đô thị hoá (Tại đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo...), đây là cách đánh giá thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.

(Nguồn:TS Trần Thục Hân - Tạp chí quy hoạch số 93)
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website