Hãy làm những điều tốt đẹp nhất

Trong 30 năm đổi mới vừa qua, nông dân tại các khu vực ngoại thành Hà Nội đã có nhu cầu và cơ hội kiếm tiền nhờ vào điều kiện thuận lợi ở gần với Thủ đô. Với một số người, điều này có nghĩa là họ thường xuyên đi lên thành phố bán hàng, lái xe taxi hoặc lao động; còn những người khác làm việc ở một khu công nghiệp gần đó hoặc sản xuất và bán những sản phẩm sản xuất ra từ làng mình. Bằng việc kết hợp thu nhập từ làm nông nghiệp với phi nông nghiệp, nhiều gia đình ở nông thôn đã có thể xây nhà mới, cho con đi học và tiết kiệm cho tương lai. Đối với những người có thể tận dụng được điều kiện gần kề thủ đô, lúc này là thời gian vàng.

Khi mà những khu vực đô thị mở rộng và áp lực phát triển trải rộng từ thủ đô đến các tỉnh, ngày càng có nhiều người sống ở tỉnh chỉ dựa vào việc làm phi nông nghiệp để kiếm sống và nhiều ngôi làng mang tính lịch sử chỉ còn lại cái tên mà thôi. Bài báo này sử dụng nghiên cứu ở hai ngôi làng thuộc tỉnh Hà Tây cũ, đã sát nhập vào Thủ đô vào năm 2008, đồng thời, sử dụng kết hợp các cuộc phỏng vấn và số liệu điều tra khảo sát để hiểu cách thức chuyển đổi đô thị hóa diễn ra ở các vùng nông thôn và người dân mong đợi gì trong tương lai. 

Lập bản đồ chuyển đổi đô thị

Tổng cục Thống kê mô tả các không gian xã hội, văn hóa và kinh tế của Việt Nam thông qua hai cấp hành chính. Xã thuộc khu vực nông thôn trong khi phường thuộc khu vực đô thị. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm chúng ta còn biết một cấp hành chính khác tồn tại được mô tả không phải là nông thôn cũng không phải là đô thị. Đây là những khu vực ven đô của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã sử dụng số liệu viễn thám để lập bản đồ về mức độ và tỷ lệ mở rộng đô thị tại địa phương (Li và Yeh, 1998; Schneider, Seto, và Webster, 2005), ở phạm vi quốc gia (APN, 2009), và ở quy mô toàn cầu (Schneider, Friedl, & Potere, 2009, 2010; Seto et al.,2012).

Những nghiên cứu này chỉ rõ quá trình đô thị hóa diễn ra là sự mở rộng vật thể các khu vực lõi đô thị, dọc theo các tuyến đường chính và liên quan đến sự phát triển của các khu công nghiệp mới ở các khu vực nông thôn. Trong khi thông tin này là hữu ích đối với các nhà quy hoạch thì nó lại không cho chúng ta biết sự chuyển đổi về kinh tế, văn hóa xã hội. Mặt khác, số liệu thu thập được thông qua các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia có thể cho chúng ta biết những thay đổi về xã hội và kinh tế ở mức độ hộ gia đình (Dahly & Adair, 2007; Jones-Smith & Popkin, 2010; McDade & Adair, 2001; Van de Poel, O’Donnell, & Van Doorslaer, 2009), nhưng thường không nêu được những ảnh hưởng của việc dịch cư và chuyển đổi vật thể về không gian. Ví dụ, hãy xem xét tác động của một khu công nghiệp mới đối với một khu vực nông thôn và bạn sẽ thấy sự hạn chế của điều tra ở cấp độ hộ gia đình.

Năm 2010, các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Đông Tây bắt đầu phát triển một cách tiếp cận kết hợp dữ liệu viễn thám với các dữ liệu kinh tế-xã hội để lập bản đồ chuyển đổi đô thị tại Việt Nam. Dựa trên các nghiên cứu của Tiến sĩ Terry McGee, giáo sư địa lý tại Đại học British Columbia, và TS. Jonathon Riggs, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu á tại Đại học Quốc gia Singapore, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng có thể lập bản đồ các khu vực ven đô thị bằng cách chỉ sử dụng bốn chỉ tiêu sau:

1.Tỷ lệ các hộ gia đình có thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp
2.Tỷ lệ đất nông nghiệp, rừng hoặc thủy sản
3.Chỉ số thực vật dựa vào số liệu viễn thám và
4.Tỷ lệ các hộ gia đình có nhà vệ sinh hiện đại.

Trong khi ba chỉ tiêu đầu tiên rất phù hợp với mô hình theo đề xuất của McGee và Rigg (McGee, 1991 và Rigg, 2006), chỉ tiêu cuối cùng có vẻ xa lạ. Tuy nhiên, dựa trên quan sát và phỏng vấn, "nhà vệ sinh hiện đại" là một chỉ tiêu hiện đại tốt hơn, ví dụ, kết nối với lưới điện hoặc tiếp cận với đường ống nước. Dựa trên bộ chỉ tiêu này, các nhà nghiên cứu tính toán rằng trong giai đoạn từ năm 2006 và 2011, 333 xã ven đô ở Việt Nam đã trở thành đô thị và 2989 xã đã trở thành khu vực ven đô.

Bản đồ dưới đây cho thấy các khu vực ven đô xung quanh Hà Nội. Cần lưu ý rằng dựa trên mô hình này, một vùng rộng lớn kết nối với hành lang giữa thành phố Hà Nội và Bắc Ninh có thể được coi là ven đô trong năm 2011.

Cơn sốt đất

Năm 2008, tác giả của báo cáo này đã tiến hành nghiên cứu khu vực phía Tây Hà Nội. Làng Mỗ, nay thuộc phường Tây Mỗ, Quận Từ Liêm đã trở nên quen thuộc với khán giả trên toàn quốc trong loạt phim truyền hình Làng Ven Đô. Ngôi làng giáp với xã An Khánh, nay là phường An Khánh, nơi có công viên Thiên Đường Bảo Sơn và khu đô thị mới Splendora. Làng Đồng Nanh tại xã Tiên Phương, tỉnh Hà Tây, là một làng nông nghiệp tương đối nghèo tại thời điểm nghiên cứu. Các hộ gia đình trong làng vẫn lấy nước từ các giếng chung; vẫn là những bức tường gạch bao quanh nhà và nấu ăn bằng cách đốt rơm. Dù có không khí xanh mát của làng, người ta vẫn có thể dễ dàng trông thấy những nhà cao tầng đang xây dựng tại Mỹ Đình từ ngôi làng này.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, Hà Nội sát nhập với tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và các xã Đồng Xuân, Tiền Xuân, Yên Bình và Yên Trung của tỉnh Hòa Bình để hình thành nên "hạt nhân" của một thành phố thủ phủ trong tương lai. Không cần phải nói, ngay cả trước khi công bố sát nhập tỉnh Hà Tây, giá bất động sản đã bắt đầu tăng vọt. Ví dụ, tại thành phố Hà Đông, một mét vuông đất tăng lên 4.000 đô la Mỹ, tương đương với vị trí đắc địa ở Mỹ Đình, Hà Nội. Đất tại làng Việt Kiều, bán với giá 500 đô la Mỹ một mét vuông vào năm 2006, đã tăng lên 2.500 đô la Mỹ vào năm 2008 (Báo Đầu tư Việt Nam ngày 03/3/2008). Giá đất ở các xã cũng bắt đầu tăng lên. Tây Mỗ, Đại Mỗ, Xuân Phương, Phủ Diễn, Văn Khê, An Khánh, ở tất cả các xã nằm gần ranh giới phía tây của Hà Nội, giá đất tăng gấp ba lần trong một năm.

Giá trị đất đã bị đẩy lên cao do các dự án đô thị, công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Đến cuối năm 2008, 102.761ha đất và phần lớn các dự án phát triển đô thị mới nằm ở khu vực Hà Nội mở rộng thuộc tỉnh Hà Tây cũ (Hãy nhìn Việt Nam, ngày 27/3/2009). Trong những tháng trước khi sát nhập, 195 dự án đã được cấp phép tại bốn quận chỉ ở phía Tây Hà Nội. Những dự án nhà ở, giải trí, và công nghiệp được gắn với sự phát triển của mạng lưới giao thông vùng. Trong số các dự án này, nổi bật nhất là dự án đường cao tốc Láng Hòa Lạc với 6 làn đường dài 30 km, được hoàn thành vào năm 2010. Hơn 20 khu đô thị mới đã được phê duyệt hoặc đang được xây dựng dọc theo đường cao tốc trong năm 2008.
Vào thời điểm đó, đại diện của các nhà đầu tư phàn nàn về chi phí bồi thường cao, bao gồm cả các loại phí đặc biệt và những chi phí khác mà họ phải trả cho giải phóng mặt bằng. Ví dụ theo lời một giám đốc điều hành đã được trích dẫn trên báo đầu tư Việt Nam cho biết: "Giải phóng mặt bằng là trở ngại lớn nhất vì người dân giữ đất cho tương lai, được biết sẽ có hơn 100 dự án mới ở Hà Tây" (Báo Đầu tư ngày 03/3/2008). Trong thực tế, giữa tháng 8 năm 2006 và giai đoạn tiến hành nghiên cứu này, tỉnh Hà Tây đã bồi thường nông dân với giá chỉ là 127.700 đồng mỗi mét vuông (7,58 đô la Mỹ) cho đất nông nghiệp. Do sự phản đối từ phía người dân, tỉnh đã đồng ý cho phép nông dân giữ lại 10% đất đã phân loại, gọi là "đất dịch vụ", để sử dụng hoặc bán. Tùy thuộc vào vị trí, giá thị trường đối với đất dịch vụ trong năm 2008 có thể giao động khoảng từ 7 đến 30 triệu đồng (400 đô la Mỹ đến 1.800 đô la Mỹ) cho mỗi mét vuông. Được biết giá trị đất dịch vụ tăng, giá trị thực của đất nông nghiệp và nhiều trường hợp tham nhũng , chẳng có gì ngạc nhiên khi người nông dân bất đắc dĩ phải chia tay đất đai ở mức giá chính thức.

Các kinh nghiệm khác nhau của hai ngôi làng

Thời điểm cuối cùng là khi đất nông nghiệp được phân bổ lại cho các nhà đầu tư, báo hiệu kết thúc những ngày vàng đối với nhiều cộng đồng ở Hà Tây. Những người khác có thể nhìn thấy những thay đổi sắp tới nhưng họ còn lâu mới có cơ hội để tận dụng các cơ hội của mình. Sự khác nhau về kinh nghiệm là trọng tâm của nghiên cứu này.

Tại cả hai làng, người dân được hỏi một loạt các câu hỏi lựa chọn bắt buộc. Họ có thể trả lời "đồng ý" hay "không đồng ý", nhưng họ không thể có cơ hội giải thích. Một nhóm dân riêng biệt được hỏi những câu hỏi tương tự nhưng được khuyến khích giải thích. Trong nhiều trường hợp, lời giải thích lại làm thay đổi sự lựa chọn của người dân. Ví dụ, khi buộc phải trả lời câu hỏi "tốt hơn nên là một công nhân hơn là một nông dân" thì nhiều người đồng ý, nhưng khi có cơ hội để giải thích, họ đã thay đổi câu trả lời của mình với ghi chú rằng họ muốn là một nông dân hơn nhưng họ buộc phải trở thành công nhân vì họ đã hoặc sẽ bị mất đất đai trong tương lai.

Câu hỏi về nghề nghiệp này cho thấy một sự khác biệt rõ ràng giữa làng Mỗ, có vị trí gần với thủ đô Hà Nội hơn, và Đồng Nanh vốn ở xa hơn. Người dân ở làng Mỗ có thể đồng ý với ý kiến trở thành một công nhân hơn làm một nông dân (câu hỏi 11). Đây là một ý kiến khó chấp nhận bởi vì, qua các cuộc phỏng vấn cho thấy, cách nhìn nhận giá trị này không chỉ đánh giá về tiềm năng thu nhập mà còn vì có tính đặc thù gần thủ đô. Đồng Nanh ở xa hơn, rõ ràng họ muốn lưu giữ đặc tính làm nông nghiệp. Trong khi chỉ có 65% số người được hỏi ở làng Mỗ coi nông nghiệp là nền tảng của kinh tế hộ gia đình nông thôn, 93% số người được hỏi ở Đồng Nanh trả lời coi nông nghiệp là nền tảng của kinh tế hộ gia đình nông thôn (câu hỏi 3). Tương tự, người dân Đồng Nanh hầu như công nhận nông nghiệp như là một phần trong văn hóa làng của họ (câu hỏi 4). Hơn nữa, họ không đồng ý việc giao đất nông nghiệp của họ cho nhà đầu tư (Câu 7) hoặc có ít người dân làng sẽ là nông dân trong tương lai (Câu 16). Không ngạc nhiên, họ cũng từ chối gợi ý rằng họ sẽ có thể sống dựa vào tiền lương (Câu 19) hoặc là họ sẽ không cần đến vườn (Câu 21). Cần lưu ý rằng Đồng Nanh được bao quanh bởi các dự án phát triển đô thị, bao gồm một trường đại học mới, một đường cao tốc mới, và một khu đô thị mới, tất cả đều đang tìm kiếm quyền đối với đất nông nghiệp trên xã của họ. Đồng thời, người dân của làng đang nhanh chóng bán hết đất canh tác trên những ngọn đồi nơi nhiều người Hà Nội rất mong muốn sở hữu để xây dựng nhà nghỉ cuối tuần.

Người dân Đồng Nanh gần như chưa nhận thấy những vấn đề môi trường trong tương lai do đô thị hóa (Câu 6) hoặc bất kỳ ưu tiên cho các dự án nước, thoát nước và vệ sinh môi trường (Câu 17), so với làng Mỗ. Để chắc chắn, Đồng Nanh, có nguồn nước và vị trí môi trường tốt hơn nhiều so với làng Mỗ. Nhưng đồng thời, khi xem xét nhiều khu vực khác nhau trong cuộc khảo sát lựa chọn bắt buộc cho thấy, rõ ràng là Đồng Nanh cách xa Hà Nội hơn và không phải đối mặt với những mối đe dọa sắp xảy ra mà làng Mỗ phải đối mặt, chưa nắm bắt được thực tế của quá trình chuyển đổi đô thị. Họ chưa nhận ra rằng làng mình sẽ trở thành nhà hoặc nơi cư trú của ngày càng nhiều dân ngoại cư, bất chấp việc đất đai bán cho người dân Hà Nội và sự xuất hiện một số nhà tạm cho công nhân tại một khu công nghiệp gần đó. Họ thừa nhận sẵn sàng chia sẻ lợi ích từ phát triển, và họ chưa nhận ra ảnh hưởng xấu của quá trình chuyển đổi đô thị. Công an địa phương cũng thường xuyên phàn nàn những thay đổi về đạo đức của người dân địa phương. Ví dụ, một cảnh sát cho biết là trước đây nếu một người phụ nữ có con ngoài giá thú, cộng đồng sẽ cạo đầu cô ta và đuổi ra khỏi làng. Hiện nay, ít nhất có 10 bà mẹ đơn thân đang sống với con của mình trong làng.

Kết luận

Làng gần Hà Nội nhất, thực tế cũng đô thị hóa nhiều rồi. Người dân được hỏi trong cuộc khảo sát của chúng tôi hiện sống ở làng Mỗ đang phải đối mặt với một tương lai không có nông nghiệp, sát nhập ranh giới hành chính của làng với một quận, làm gia tăng số lượng cư dân không phải là người bản xứ sống trong làng, một sự biến đổi nhanh chóng về không gian của làng và gia tăng các mối đe dọa về môi trường. Họ hoài nghi về khả năng tồn tại với các mức thu nhập vừa qua vốn chỉ dựa vào phi nông nghiệp. Họ biết rõ sự bất bình đẳng về chính sách bồi thường đất, nhưng khi giá đất trong làng tăng vọt, họ cũng đã tham gia vào cơn sốt đất. Với một số người, điều này chỉ là một vấn đề cần phải làm. Sau khi bị mất đất nông nghiệp cho các dự án nhà ở và cơ sở hạ tầng, họ quay sang bán đất vườn trên mảnh đất định cư của mình như là một cách nhanh chóng để có tiền. Với số tiền trong tay, họ đã trở nên rất nhạy cảm với tác động xấu của thành phố tới những thanh niên, nhưng do bất đồng về thế hệ, chỉ có thể quay về với phong tục của mình vốn như một bức tường thành chống lại họ. Trong thực tế, họ nhìn nhận truyền thống của họ là những cách thức duy nhất để giữ được bản sắc và mong chờ, có chút gì đó phi lý, rằng những cư dân vốn không phải dân bản địa sống tại ngôi làng của họ, cuối cùng sẽ tham gia vào các nghi lễ của làng. Những người đã tạo ra quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp là các chuyên gia làm việc tại Hà Nội hoặc sinh viên mới tốt nghiệp đại học làm việc trong các lĩnh vực có nhu cầu cao, nhìn về tương lai với sự tự tin. Các hộ nông dân, đặc biệt là những người ít học và có con sống phụ thuộc, sợ hãi sự chuyển đổi. Quá nhiều tuổi để làm việc trong các nhà máy và thiếu đất nông nghiệp, phương án duy nhất của họ dường như là bán dần tài sản đất đai, và khi không còn đất đai, họ sẽ dần lâm vào cảnh đói nghèo. Đây là thực tế sắp xảy ra của quá trình chuyển đổi đô thị mà họ phải đối mặt.

Nằm ở xa hơn, người dân Đồng Nanh không phải đối mặt với thực tế quá trình chuyển đổi đô thị theo cùng cách như thế. Nông nghiệp vẫn là cốt lõi trong đời sống kinh tế văn hóa của họ, chủ yếu phụ thuộc vào làm nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu hàng ngày. Nhiều người trong làng cũng làm việc trong các nhà máy gần đó hoặc đan thuê tại nhà cho các cơ sở sản xuất áo len tại La Phù, đan ghế mây cho các cơ sở sản xuất ở Phú Nghĩa hoặc sản xuất các sản phẩm khác cho các nhà thầu ở đâu đó.

Thiếu sự công nhận những nghề này và đề cập đến họ như là những người nông dân, nhấn mạnh cách tư duy về nông hiện nay, trong đó nông nghiệp là nghề căn bản để duy trì giá trị nhưng được bổ sung bằng các hoạt động khác, mặc dù không ổn định nhưng đem lại phần lớn thu nhập của gia đình. Trong 20 năm qua, phương thức "đi bằng hai chân" này đã giúp cho nhiều người dân vùng nông thôn đáp ứng được nhu cầu gia đình, trong khi tạo ra thu nhập cần thiết để mua những thứ họ không thể tự cung ứng. Tuy nhiên, khi nhu cầu tăng lên thì những như cầu này do đó sẽ không còn phụ thuộc quá vào làm nông nghiệp. Tại Đồng Nanh, nhiều người dân được chúng tôi phỏng vấn đã phàn nàn về việc phải lao đọng suốt ngày để đáp ứng nhu cầu cho con cái như quần áo, các trò chơi và giầy thể thao. Đồng thời, họ cũng phàn nàn về vấn đề kỷ luật do phụ thuộc vào ông bà để trông nom chúng trong khi cha mẹ đi làm. Giả sử tiếp tục sự ưu việt của công việc làm nông nghiệp đứng trước sự gia tăng nhu cầu thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp thì Đồng Nanh tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi đô thị so với suy nghĩ của người dân.

Tại thời điểm này, họ thấy có lợi về mặt kinh tế. Bán đất cho người ngoài để tạo ra thu nhập từ đất đồi nông nghiệp chưa sử dụng đến; làm nông chỉ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản và lao động ngoài làng hoặc tại nhà cho các nhà thầu đang đem lại các mức thu nhập cao. Với cách nghĩ này, người dân không thể hình dung được lúc mà nông nghiệp sẽ ngừng cung cấp những nền tảng của quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình. Giống như những người khác, họ tìm đến sự phục hồi của các nghi lễ và không gian nghi lễ như một phương tiện để giữ gìn bản sắc của họ.Tuy nhiên, không giống như làng Mỗ, họ không coi đô thị hóa và công nghiệp hóa như là một mối đe dọa cho đạo đức của giới trẻ, dù có bằng chứng trong làng mình. Mặc dù bị bao quanh bởi các dự án xây dựng đang triển khai hoặc trong giai đoạn lập quy hoạch, người dân làng vẫn tỏ ra tự tin vào khả năng có thể ngăn chặn sự thay đổi. Người bên ngoài đã chuyển đến vì vẻ đẹp hiếm có của làng - một ngôi làng nghề truyền thống với nhiều ngôi nhà một tầng, dọc theo những con đường nhỏ bằng gạch đá, nằm trên một ngọn đồi nhỏ, phủ đầy cây cối nuôi dưỡng bởi nước giếng trong. Người ta có thể cảm nhận được sự tin tưởng như thế ở làng Mỗ khi có rất nhiều những ngôi nhà cũ, nhà thờ họ, chùa, miếu, ao hồ, tất cả đã trở thành một biểu tượng đẹp như phim ảnh của vùng nông thôn.

Vậy làm thế nào để người dân làng đối phó với quá trình chuyển đổi đô thị? Mô tả của hai ngôi làng này cho thấy điều kiện có vị trí gần với khu vực đô thị sẽ mang đến những cơ hội rất lớn về việc làm, tạo thu nhập bổ sung cho hình thức tự cung nông nghiệp.Tuy nhiên, những người tận dụng cơ hội sớm được chuẩn bị tốt nhất để đối mặt với những khó khăn sau đó. Điều kiện bắt đầu thay đổi khi bất động sản đem bán cho những người ngoài làng. Những vụ mua bán bất động sản bước đầu đã mang lại thu nhập cần thiết để trang trải các khoản đầu tư lớn như xây dựng nhà ở mới, nhưng dần dần dẫn đến sự biến đổi của không gian làng, kèm theo đó là gia tăng các vấn đề về môi trường, văn hóa và xã hội.
Các làng có rất ít khả năng chủ động tham giavào quy hoạch cấp xã trước khi những thay đổi này diễn ra. Kết quả là, họ bị buộc phải phản ứng khi cố gắng để theo kịp với các tác động từ việc san lấp đất, tăng trưởng dân số, sự gia tăng dân ngoại cư, duy trì các không gian nghi lễ, xây dựng đường xá mới, vệ sinh môi trường, cấp nước, trường học và sân chơi, và tạo việc làm cho những người mà đất nông nghiệp của họ đã bịphân chia lại. Đây không phải là những nhiệm vụ nhỏ và chúng sẽ trở nên khó khăn hơn theo thời gian.

Khi phải đối mặt với quá trình chuyển đổi đô thị, các làng sẽ cần sự hỗ trợ để lập quy hoạch cho tương lai. Lập quy hoạch dựa vào cộng đồng ở cấp làng sẽ là chìa khóa cho một quá trình chuyển đổi thành công. Cách tiếp cận này khác với cách tiếp cận "Nông thôn mới", tập trung chủ yếu vào việc cung cấp các cơ sở hạ tầng. Nền tảng là Làng (không phải là Xã) mang đến cho các cộng đồng địa phương cơ hội để nắm bắt tương lai của chính mình bằng cách phát triển các chiến lược chuyển đổi đô thị riêng của họ mà có thể bao gồm việc bảo tồn đất đai cho không gian công cộng, sử dụng nhiều mục đích, có thể được sử dụng làm chợ, sân chơi và bãi đậu xe tại các thời điểm khác nhau trong ngày, mở rộng đường xá cho giao thông trong tương lai, gìn giữ vườn tược và cây cối trên đất nhà, cải thiện hệ thống thoát nước, thu gom chất thải và cung cấp điện, khôi phục lại các địa điểm tâm linh và phát triển tiềm năng kinh tế. Với sự hướng dẫn và hỗ trợ của các chuyên gia, cách tiếp cận này có thể trở thành một cách thức quan trọng trong việc chuyển sang một cách sống mới trong đó nông nghiệp đóng một vai trò rất nhỏ. Cho đến nay, trong bối cảnh thiếu các hướng dẫn của chính phủ, không có tỉnh nào sẵn sàng tập trung vào việc lập quy hoạch dựa vào cộng đồng cấp làng. Tỉnh Bắc Ninh, nơi mà người dân được tiếng là thông minh, có văn hóa và có khả năng kết hợp tiếp thu các ý tưởng mới nên là tỉnh đầu tiên thử tiến hành cách tiếp cận này.

Tài liệu tham khảo
Dahly, D. L., & Adair, L. S. (2007). “Quantifying the urban environment: a scale measure of urbanicity outperforms the urban-rural dichotomy”. Social Science & Medicine, 64(7), 1407-1419.
 DiGregorio, M. (2011). “Into the land rush: Facing the urban transition in Hanoi’s western suburbs”. International Development Planning Review Vol. 33:3, pp. 293-319.
Jones-Smith, J. C., & Popkin, B. M. (2010). “Understanding community context and adult health changes in China: development of an urbanicity scale”. Social Science & Medicine, 71(8), 1436-1446.
Li, X., & Yeh, A. G. O. (1998). “Principal component analysis of stacked multi-temporal images for the monitoring of rapid urban expansion in the Pearl River Delta”. International Journal of Remote Sensing, 19(8), 1501-1518.
    LookAtVietnam (27MAR09). “Hanoi: How many idle projects to be withdrawn?” Accessed at http://www.lookatvietnam.com/2009/03/hanoi-how-many-idle-projects-to-be-withdrawn.html on 03APR09. 
McDade, T. W., & Adair, L. S. (2001). “Defining the “urban” in urbanization and health: a factor analysis approach.” Social Science & Medicine, 53(1), 55-70.
McGee, T. G. (1991). “The emergence of desakota in Asia: expanding a hypothesis”. In N. Ginsburg, B. Koppel, & T. G. McGee (Eds.), The extended metropolis: Settlement transition in Asia (pp. 15e55). Honolulu, HI: University of Hawai’i Press. 
Rigg, J. (2006). “Land, farming, livelihoods, and poverty: rethinking the links in the rural South”. World Development, 34(1), 180e202
Saksena, S, Fox, J., Spencer, J., Castrence, M., DiGregorio, M., Epprecht, M., Sultana, N. Finucane, M., Nguyen, L., and Vien, T. D. “Classifying and mapping the urban transition in Vietnam.” Applied Geography 50 (2014) pp. 80-89. 1
Schneider, A., Friedl, M. A., & Potere, D. (2010). “Mapping global urban areas using MODIS 500-m data: new methods and datasets based on “urban ecoregions””. Remote Sensing of Environment, 114(8), 1733-1746.
Schneider, A., Seto, K. C., & Webster, D. R. (2005). “Urban growth in Chengdu, Western China: application of remote sensing to assess planning and policy outcomes”. Environment and Planning B: Planning and Design, 32(3), 323-345.
Seto, K. C., Reenberg, A., Boone, C. G., Fragkias, M., Haase, D., Langanke, T., et al. (2012). “Urban land teleconnections and sustainability”. Proceedings of the National Academy of Sciences, 109(20), 7687-7692.
Van de Poel, E., O’Donnell, O., & Van Doorslaer, E. (2009). “Urbanization and the spread of diseases of affluence in China”. Economics & Human Biology, 7(2), 200-216.
Vietnam Investment Review (03MAR08). “Promised land within reach”. Accessed on 11JUN08 at http://english.vietnamnet.vn/reports/2008/03/771411/. 
Webster, D. (2002). “On the edge: Shaping the future of peri-urban East Asia”. Asia/Pacific Research Center. Retrieved from http://iis-db.stanford.edu/pubs/20031/Webster2002.pdf.
 

 

 

(Nguồn:TS. MICHAEL DIGREGORIO - Tạp chí quy hoạch (Số 85+86))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website