Chuyền đầu ra và chương trình đào tạo - Phép thử với CDIO

1. Xây dựng chuẩn đầu ra. Vấn đề chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra là những yếu tố tác động đến quy trình sàng lọc. Hiển nhiên là chuẩn đầu vào sàng lọc thí sinh để tuyển sinh vào trường; và chuẩn đầu ra sàng lọc người học để tốt nghiệp ra trường; Một khi thí sinh đã được tuyển vào, nghĩa là đã đạt chuẩn đầu vào, thì tiếp theo đó đến lượt chuẩn đầu ra là yêu cầu mà người học cần đáp ứng; Có thể ví chuẩn đầu ra như một cái khuôn đúc, khuôn thế nào thì đúc thành sản phẩm ra thế đấy.

Nhà trường đã công bố chuẩn đầu ra (CĐR) vào tháng 6/2014, đến nay đã được hơn hai năm. Chuẩn này được các khoa phụ trách biên soạn theo từng ngành đào tạo, và được biên soạn sau khi đã biên soạn chương trình đào tạo; trong khi lẽ ra chuẩn này cần được xác định trước để định hướng cho việc biên soạn chương trình. Việc này do bối cảnh thực tế khi biên soạn chuẩn đầu ra là dựa trên mục tiêu của chương trình, khi mà CĐR chưa được xem là một yếu tố tham khảo khi biên soạn.

Tuy nhiên, dù chưa tham khảo CĐR như một yêu cầu tiên quyết khi biên soạn chương trình đào tạo; nhưng một câu hỏi được đặt ra là: -> liệu chương trình hiện nay đã đáp ứng được cái gì, và chưa đáp ứng được cái gì, so với chuẩn đầu ra mà lẽ ra chương trình phải được coi là cơ sở khi biên soạn?

Hẳn là có nhiều phương thức CĐR khác nhau ở các nước có nền giáo dục khác nhau. Một trong những chuẩn đầu ra có ảnh hưởng lớn đến xu thế cải tiến chương trình hiện nay tại các nước tiên tiến, được nhiều trường ở Việt Nam vận dụng; đó là chuẩn CDIO (ConceiveDesign-Implement-Operate), dù hiển nhiên đó không phải là chuẩn duy nhất.

Dù chương trình chưa được soạn thảo theo chuẩn đầu ra CDIO nói trên, chúng tôi cũng thử đánh giá sơ bộ kết quả đào tạo theo chuẩn CDIO này, dựa trên ba (03) mục tiêu, bốn (04) cấp độ, và mười hai (12) tiêu chuẩn của tiêu chuẩn CDIO 2.0 (08/12/2010) của tổ chức CDIO Initiative, dựa trên kết quả khảo sát từ người học (chưa khảo sát từ người dạy và người sử dụng kết quả đào tạo); để có một cái nhìn sơ bộ, xem liệu xem chúng ta cần có những điều chỉnh như thế nào, ít nhất là từ phía người học, một khi coi chuẩn này làm cơ sở.

2. Tham khảo Chuẩn đầu ra – CDIO; 03 mục tiêu; 04 cấp độ; 12 tiêu chuẩn. Chuẩn đầu ra CDIO của tổ chức CDIO Initiative(1) hiện được áp dụng
tại 126 trường trên thế giới. Cốt lõi của chuẩn này là Đề cương CDIO Syllabus (2) được thông qua và thực hiện tại Hội thảo quốc tế CDIO lần thứ 7 tại Đại học Kỹ thuật Đan Mạch, thành phố Copenhagen ngày 20-23/6/2011; mà trước đó vào tháng Giêng 2004, tổ chức này đã thông qua 12 tiêu chuẩn mô tả chương trình, làm cơ sở cho các tổ chức đào tạo, các nhà lãnh đạo ngành giáo dục, các tổ chức nghề nghiệp, các viện - trường đào tạo tham khảo như một công cụ để xây dựng, đánh giá, cải tiến, điều chỉnh, và thông qua các chương trình đào tạo. Từng cơ sở đào tạo có thể căn cứ trên 12 chuẩn (3) này để minh định cho chương trình đào tạo của mình (4).

2.1. Ba mục tiêu:
Tiêu chuẩn CDIO Standard v2.0 (5) của CDIO Initiative được công bố ngày 08/12/2010 với 03 mục tiêu theo chốt; theo đó người học:

Hộp 1. Ba mục tiêu then chốt của CDIO Standard v2.0 - nguồn:[1].
1. Làm chủ được kiến thức cơ bản chuyên ngành;
2. Vận dụng sáng tạo sản phẩm và những hệ thống mới;
3. Hiểu được tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển công nghệ;

Hẳn trong mục tiêu của chương trình đào tạo và trong mục tiêu của các học phần chúng ta đã đề ra các mục tiêu tương tự như trên. Tuy nhiên chúng ta cũng cần xác định lại xem các mục tiêu đề ra đã được đáp ứng như thế nào qua chương trình, nội dung, và cách thức đào tạo.

Để đánh giá 03 mục tiêu chung này người ta phân thành 04 cấp độ và 12 tiêu chuẩn.

2.2. Bốn cấp độ đầu ra:
(1) Cấp độ 1 - kỹ thuật: Người tốt nghiệp nắm được kiến thức chuyên
ngành:
(2) Cấp độ 2 - cá nhân: Người tốt nghiệp nắm được thêm kỹ năng và
phẩm chất cá nhân;
(3) Cấp độ 3 - nhóm: Người tốt nghiệp có thêm phẩm chất xã hội;
(4) Cấp độ 4 - CDIO: Người tốt nghiệp có thêm năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, thông qua 4 bước: nhận thức (Conceive), thiết kế (Design), thực hiện (Implementation), và tổ chức (Operation)(6);

Bản chất và đặc điểm của mô hình CDIO trong việc xác định Chuẩn đầu ra và xây dựng Chương trình đào tạo là hướng vào giải quyết 2 câu hỏi trung tâm:
- Sinh viên ra trường cần phải đạt được kiến thức, kĩ năng và thái độ gì (dạy cái gì)?
- Cần phải làm như thế nào để sinh viên ra trường có thể đạt được các kiến thức, kĩ năng và thái độ đó (dạy như thế nào)?

Hai câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào nhằm trả lời cho việc phân loại (taxonomy) hình thức đào tạo theo UNESCO (7), trong đó gồm 04 hình thức: (1) học để biết; (2) học để làm; (3) học để chung sống; và (4) học để hội nhập; (Learning to Know; Learning to Do; Learning to Live Together; Learning to Be).

Hộp 2. Phân loại 04 hình thức học tập theo Unesco; [nguồn: Delors, J., et al., Learning – the Treasure Within: Report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-First Century, UNESCO Publishing, Paris, France, 1996.]
• Learning to Know, that is, acquiring the instruments of understanding;
• Learning to Do, so as to be able to act creatively on one’s environment;
• Learning to Live Together, so as to co-operate with other people;
• Learning to Be, an essential progression that proceeds from the previous three.
Hình thức thứ 4 – học để hội nhập (learning to be) là mức cao nhất mà cùng với 03 hình thức học tập còn lại, được dùng để xác định mục tiêu của chương trình đào tạo và các học phần trong hợp phần.

Bốn cấp độ này được triển khai qua 12 tiêu chuẩn.

2.3. Mười hai tiêu chuẩn:
Mười hai tiêu chuẩn CDIO được thiết kế nhằm giúp cho chủ nhiệm chương trình và người dạy biên soạn, cải tiến, và đánh giá chương trình đào tạo liên tục và định kỳ; tạo ra các cột mốc và các mục tiêu để từng bước đạt mục tiêu cải tiến chương trình; và cũng được dùng vào các mục tiêu đánh giá chương trình đào tạo.

Các tiêu chuẩn này xác định triết lý của chương trình (Tiêu chuẩn 1); phát triển chương trình (các Tiêu chuẩn 2, 3, và 4); Không gian học
tập và trải nghiệm (các Tiêu chuẩn 5 và 6 ); phương pháp giảng dạy và học tập (các Tiêu chuẩn 7 và 8); phát triển khoa (các Tiêu chuẩn 9 và 10); thẩm định và đánh giá (các Tiêu chuẩn 11 và 12)(8). Mỗi tiêu chuẩn được kèm theo (1) phần mô tả; (2) phần lập luận, và (3) thang đánh giá; trong đó:
- Mô tả (description): giải thích tiêu chuẩn, định nghĩa thuật ngữ, và cung cấp thông tin cơ sở;
- Lập luận (rationale): các lý lẽ biện minh cho tiêu chuẩn dựa trên nghiên cứu và thực nghiệm đào tạo đại học và sau đại học; giải thích cách thức mà các tiêu chuẩn nói trên phân biệt phương thức tiếp cận CDIO với các phương thức cải tiến đào tạo khác;
- Thang đánh giá (rubric)(9): một thang điểm 6 mức nhằm đánh giá mức độ hiệu quả dựa trên phần mô tả và phần lập luận, làm rõ bản chất của mức độ đạt được các tiêu chuẩn. Thang này mang tính tầng bậc, theo đó một mức độ đạt được bao hàm mức trước đó. Chẳng hạn, mức 5 đã bao gồm các mức 1, 2, 3, và 4 trước đó. Thang này được dùng cho mục tiêu tự đánh giá. Từng tiêu chuẩn trong số 12 tiêu chuẩn được kèm theo từng thang đánh giá, với một thang chung như sau:

Hộp 3. Thang đánh giá chung theo 12 Tiêu chuẩn CDIO v2.0; [nguồn: THE CDIO STANDARDS v 2.0 [1]; (with customized rubrics); 8 December 2010; [nguồn: http://www.cdio.org].

3. Khảo sát người học:
Được sự hỗ trợ của Phòng Đào tạo nhà trường, thực hiện khảo sát ý kiến qua trang web trường, chúng tôi nhận được trả lời từ 413 người học từ năm thứ nhất đến năm thứ năm ở các ngành đào tạo của trường gồm kiến trúc, kiến trúc nội thất, kiến trúc cảnh quan, kỹ thuật đô thị, thiết kế đô thị, mỹ thuật công nghiệp, xây dựng, quy hoạch và các ngành đào tạo khác.

Hộp 4. Khảo sát người hoc.
Mục tiêu khảo sát: chương trình hiện hành đáp ứng nhu cầu người học như thế nào, khi đối chiếu với CDIO;
Đối tượng khảo sát: sinh viên của trường;
Công cụ khảo sát: Google Drive;
Công cụ phân tích: SPSS v20.
Thời gian khảo sát: 19 ngày: từ 23/5 đến 12/6/2015;
Nội dung khảo sát: ý kiến của người học về cách học, cách dạy.
Số câu hỏi: 42; Số trả lời: 413

Hai câu hỏi trọng tâm sẽ là "dạy cái gì" và "dạy như thế nào" nghĩa là:
• Dạy cái gì: → Dạy kiến thức gì, kỹ năng gì, và thái độ gì?; và
• Dạy như thế nào: → Dạy trong từng học phần lý thuyết hoặc học phần đồ án riêng lẻ; Dạy trong từng học phần lý thuyết hoặc học phần đồ án kết hợp;

Đây là vấn đề của cấu trúc chương trình: Theo Doris R. Brodeur, 2005(10) thì cần có sự đan xen (interwoven) giữa các khối kiến thức chuyên ngành với kỹ năng và các dự án thực tiễn. Minh họa sau của Brodeur, 2005 cho thấy các hợp phần của khối kiến thức chuyên ngành theo phương đứng; trong khi đó khối kỹ năng và đồ án theo phương ngang; qua các hình thức: (1) chương trình với các học phần tách biệt nhau, thiếu chú trọng kỹ năng; (2) dạy theo chuyên ngành, đan xen kỹ năng và đồ án (tình huống trên cơ sở vấn đề); (3) dạy theo đồ án, đan xen chuyên ngành; và (4) dạy theo đồ án, thiếu kết hợp kỹ năng (Hình 1).

Chúng ta có thể dễ dàng trả lời câu hỏi thứ nhất (dạy cái gì?), nhưng lại khó trả lời câu hỏi thứ hai (dạy thế nào?); theo hình trên của Brodeur thì dường như chương trình của trường ta đang ở giữa số (2) và số (3), nghĩa là ở giữa việc “dạy kiến thức, đan xen kỹ năng” và
“dạy kỹ năng, đan xen kiến thức”.

Hình 1. Hợp phần của khối kiến thức chuyên ngành. [theo Brodeur, 2005], [nguồn: Doris R. Brodeur, CDIO: Overview, Standards, and Processes 11/2005]

Phương thức thứ (2) nói trên là đạt theo chuẩn “CDIO”, theo đó dạy kiến thức theo chuyên ngành, kèm theo kỹ năng, và đồ án (trên cơ sở vấn đề thực tiễn); Trong bảng phỏng vấn người học, chúng tôi hỏi sinh viên về vấn đề này qua câu hỏi số (11) (Hộp 4), dưới dạng câu hỏi bán cấu trúc;

Kết quả cho thấy: hơn 50% số người học được hỏi mong muốn học ‘thực tiễn – giải thích qua lý thuyết’, 39% muốn học ‘lý thuyết – giải thích qua thực tiễn’; (Hộp 5)

Số sinh viên muốn học theo cách ‘thực tiễn – giải thích qua lý thuyết’chiếm 52% đối với các ngành: (1) kiến trúc; (2) kỹ thuật đô thị; (3) mỹ thuật công nghiệp; và (4) quy hoạch; trong khi đó số sinh viên muốn học theo cách ‘lý thuyết – giải thích qua thực tiễn’ chiếm 39% đối với các ngành: (1) kiến trúc cảnh quan; (2) kiến trúc nội thất; (3) xây dựng, và (4) thiết kế đô thị. (Hình 2).

4. Thử đánh giá chương trình đào tạo hiện nay theo CDIO v2.0. Đối chiếu với 12 tiêu chuẩn theo CDIO v2.0, 42 câu hỏi được lập với các nội dung nhằm đánh giá chương trình đào tạo theo ý kiến của người học; chưa khảo sát ý kiến của người dạy và người biên soạn chương trình đào tạo (Hộp 6). Kết quả khảo sát được thử đánh giá chấm điểm theo 12 thang điểm (rubric) tương ứng với 12 tiêu chuẩn của CDIO. Mỗi tiêu chuẩn gồm có các phần (1) mô tả; (2) lập luận; và (3) thang đánh giá với 6 mức điểm từ 0 đến 5; trong đó điểm cao hơn đã bao gồm các điểm thấp hơn trước đó.

4.1. Tiêu chuẩn 1 - Bối cảnh:

→ Do trường ta chưa (hoặc không) có kế hoạch CDIO nên điểm đánh giá đối với tiêu chuẩn 1 là điểm 0.

4.2. Tiêu chuẩn 2 - Kết quả học tập:

Do trường và các khoa bắt đầu có hoặc đã có kế hoạch đánh giá kếtquả học tập, tuy vậy lại chưa có kế hoạch đồng nhất ở cấp trường,chưa thực hiện thống nhất ở các khoa; nên điểm đánh giá đối với tiêu chuẩn 2 là điểm 1.

4.3. Tiêu chuẩn 3 - Tính tích hợp của trương trình.

Hầu hết các khoa và các bộ môn trực thuộc bắt đầu có hoặc đã có kế hoạch xác lập, đánh giá các mối liên kết giữa các học phần, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 3 là điểm 1.

4.4. Tiêu chuẩn 4 - Đưa thực tiễn vào giảng dạy.

Hầu hết các khoa và các bộ môn trực thuộc đã có kế hoạch giới thiệu kỹ năng thực hành trong học phần nhập môn, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 4 là điểm 1.

4.5. Tiêu chuẩn 5 - Tham quan thực tế.

Hầu hết các khoa và các bộ môn trực thuộc đã thực hiện kế hoạch cho người học trải nghiệm tham quan thực tế qua quá trình Thiết kế - Thi công/thực hiện trong chương trình, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 5 là điểm 3.

4.6. Tiêu chuẩn 6 - Môi trường học tập.

Nhà trường đã thực hiện kế hoạch cải tạo và nâng cấp một phần cơ sở vật chất, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 6 là điểm 3.

4.7. Tiêu chuẩn 7 - Trải nghiệm học tập tích hợp.

→ Hầu hết các khoa và bộ môn đã thực hiện việc tích hợp kỹ năng và kiến thức chuyên ngành, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 7 là điểm 1.

4.8. Tiêu chuẩn 8 - Học tập chủ động.

→ Hầu hết các khoa và bộ môn đã thực hiện việc vận dụng phương pháp học tập chủ động vào các học phần, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 8 là điểm 2.

4.9. Tiêu chuẩn 9- Nâng cao năng lực của khoa.

→ Hầu hết các khoa và bộ môn đã thực hiện việc thực hiện kế hoạchnâng cao năng lực đội ngũ khoa, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 9 là điểm 3.

4.10. Tiêu chuẩn 10 - Nâng cao năng lực giảng dạy.
→ Hầu hết các khoa và bộ môn đều có kế hoạch được hội đồng khoa học phê duyệt nhằm nâng cao năng lực giảng dạy, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 10 là điểm 2 hoặc 3.

4.11. Tiêu chuẩn 11 - Đánh giá kết quả học tập.

→ Hầu hết các khoa và bộ môn đều có kế hoạch đánh giá kết quảhọc tập hiệu quả, nên điểm đánh giá Tiêu chuẩn 11 là điểm 2 hoặc 3.

4.12. Tiêu chuẩn 12 - Đánh giá chương trình đào tạo.
→ Hầu hết các khoa và bộ môn đều nhận biết nhu cầu cần đánh giá định kỳ toàn bộ chương trình đào tạo, nên điểm đánh giá là điểm 1. Không có câu hỏi khảo sát người học theo Tiêu chuẩn 12.

4.13. Tổng hợp đánh giá theo 12 tiêu chuẩn CDIO.
Dựa trên 12 tiêu chuẩn CDIOv2.0 chúng tôi đã lập bảng hỏi với 42 câu hỏi (bảng 13)

Kết quả đánh giá chủ quan từ phía người dạy là giảng viên của khoa được trình bày trong các bảng từ 1 đến 12.

Kết quả đánh giá từ phía người học căn cứ kết quả khảo sát 413 sinh viên của trường; với thang điểm quy đổi gồm 5 mức từ 0 đến 4, theo mức độ của thang trả lời của câu hỏi bán cấu trúc với 5 mức; một số câu hỏi có tùy chọn thứ 6 là tùy chọn ‘khác’; tủy chọn này được xem xét để nâng hay giảm mức điểm quy đổi do đa số chọn từ 5 mức sẵn có (Bảng 14). Điểm từ nhiều hơn 01 tiêu chuẩn được tính trung bình cộng điểm của từng tiêu chuẩn. Bỏ qua việc quy đổi chênh lệch giữa thang điểm 5 từ kết quả khảo sát và thang điểm 6 của CDIO, do chênh lệch 0,5 % giữa hai thang không đáng kể.

Với 12 tiêu chuẩn theo thang điểm 6; điểm tối đa (12x5) là 60 điểm; kể đến hệ số 12/42 (số tiêu chuẩn/số câu hỏi) là 0,285; điểm đánh giá trung bình từ người dạy là 18,24; từ người học là 14,39 (trên tổng số điểm tối đa là 60); đạt 25,33% và 19,99% tương ứng. Khi quy đổi thành thang điểm 10, thì điểm đánh giá của người dạy là 3,04/10; và của người học là 2,39 /10 điểm.

Tất nhiên những kết quả nói trên chỉ mang tính tham khảo, với mức độ tin cậy có giới hạn; do sự hạn chế về tính chính xác của các câu hỏi trong mối liên hệ với 12 tiêu chuẩn CDIO đã nêu; do số lượng người học trả lời rất ít với chỉ 413 trong số khoảng 7.000 sinh viên của trường (tỉ lệ 5,9%).

Một khi nội dung bảng hỏi được Hội đồng Khoa học trường góp ý, và khảo sát được thực hiện ở quy mô trường thì độ tin cậy hẳn sẽ cao hơn; Tuy vậy đánh giá và cho điểm chỉ là một mặt của vấn đề; và chuẩn CDIO cũng chỉ là một chuẩn trong số nhiều chuẩn khác. Và việc quan trọng mà chúng ta đều quan tâm, là chúng ta sẽ cải tiến chương trình như thế nào sau 5 năm đào tạo theo tín chỉ.

GHI CHÚ:
(1) CDIO Initiative – một tổ chức đổi mới giáo dục dựa trên tiêu chí chuẩn đầu ra CDIO.
(2) Đề cương CDIO Syllabus – Phiên bản v1.0 năm 2001 – Phiên bản v2.0 năm 2011 - Nguồn: http://www.cdio.org/benefits-cdio/cdio-syllabus/cdio-syllabus-topical-form.
(3) Theo http://www.cdio.org/implementing-cdio/standards/12-cdio-standards#
(4) Theo http://www.cdio.org/
(5) Theo http://www.cdio.org/implementing-cdio/standards/12-cdio-standards
(6) Bốn cấp độ đầu ra; Theo http://www.cdio.org/cdio-history; Nguyên văn: 1. complex value-addedengineering systems (Level 1 – Technical); 2. mature and thoughtful individuals (Level 2 – Personal);
3. modern team-based environment (Level 3 – Interpersonal); 4. conceive-design-implementoperate (Level 4 – CDIO). (7) Theo Delors, J., et al., Learning – the Treasure Within: Report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-First Century, UNESCO Publishing, Paris, France, 1996.
(8) THE CDIO STANDARDS v 2.0; (with customized rubrics); 8 December 2010; [nguồn: http://www.cdio. org];
(9) Nguyên văn: ‘scoring guide that seeks to evaluate levels of performance’;
(10) Xem THE CDIO STANDARDS v 2.0 [1]; (with customized rubrics); 8 December 2010; [nguồn: http://www.cdio.org];
(11) Doris R. Brodeur, dbrodeur@mit.edu - CDIO: Overview, Standards, and Processes 11/2005 [5]

Tài liệu tham khảo:
1. CDIO Stasndards v2.0; (with customized rubrics); 8 December 2010; [nguồn: http://www.cdio.org];
2. Dr. Edward F. Crawley - massachusetts Institute of Technology - CDIO Syllabus v2.0 - An Updated Statement of Goals for Engineering Education;
[nguồn: http://www.cdio.org/files/project/file/cdio_syllabus_v2.pdf];
3. Trinh Doan, & Nhut Ho - 2014 (dtmtrinh@vnuhcm.edu.vn) - Đề cương CDIO v2.0; [nguồn: http://cdio.org/files/syllabus/CDIOSylabus4Level-Vietnamese.pdf]
4. Delors, J., et al., Learning – the Treasure Within:Report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-First Century, UNESCO Publishing, Paris, France, 1996;
5. Doris R. Brodeur, dbrodeur@mit.edu - CDIO:Overview, Standards, and Processes 11/2005

(Nguồn:Đô Phú Hưng - Tạp chí quy hoạch (Số 83+84))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website