Chuyên ngành đô thị và nông thôn tại Việt Nam

1. Khái quát một số vấn đề chung Trong hơn 20 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới

Cùng với quá trình CNH-HĐH đất nước, tốc độ đô thị hóa của nước ta cũng ngày càng tăng nhanh, hệ thống đô thị quốc gia được quan tâm đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều đô thị, điểm dân cư nông thôn, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, du lịch, kết cấu hạ tầng... đã được quy hoạch, đầu tư xây dựng mới, hoặc cải tạo mở rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển mới của Đât nước. Năm 1998, tỉ lệ đô thị hóa mới đạt khoảng 24%, nhưng đến năm 2015 đã tăng lên trên 35,7%. Quy hoạch xây dựng đã thực sự góp phần tạo ra nguồn lực trong phát triển KT-XH của đất nước. Trong đó, kinh tế đô thị góp khoảng 70% GDP cả nước, các chỉ số thu ngân sách của các vùng tỉnh và các đô thị lớn cho thấy nhìn chung tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị đạt trung bình từ 12 đến 15%, cao gấp 1,2 đến 1,5 lần so với mặt bằng chung trong cả nước. Hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kĩ thuật đô thị, kể cả khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại. Nhìn chung, diện mạo kiến trúc, đô thị, nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, có bản sắc...

Tuy nhiên, chất lượng đô thị hóa của Việt Nam chưa cao, cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và hạ tầng kĩ thuật đô thị cũng như không gian, kiến trúc đô thị chậm phát triển, thiếu đồng bộ. Một thực tế cho thấy, từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, từ Hà Nội đi Hải Phòng, lên Cao Bằng, Sapa... Từ TP. Hồ Chí Minh tới Nha Trang, lên Đà Lạt... đâu đó, đô thị (đôi khi chỉ có một lớp nhà) cứ kéo dài, lan toả, bám dọc các tuyến đường tưởng chừng “phố phường” như không có hồi kết. Phong cách “Đô thị mặt tiền” hay “đô thị quốc lộ” (Mà đây có thể lại là sự nhầm lẫn của quan điểm cho rằng sự phát triển xây dựng dọc theo các tuyến đường chính là phát triển hành lang đô thị – ý kiến ông Kenji TANAKA, chuyên gia Nhật Bản) không những đang làm tắc nghẽn, mất an toàn giao thông trên nhiều trục quốc lộ mà còn tạo nên các tuyến phố thiếu thẩm mĩ. Đô thị với những kiến trúc lộn xộn, ngổng ngang, với hệ thống đường chắp vá, thiếu sự liên thông, mất an toàn cũng là biểu hiện của quá trình đô thị hoá thiếu kiểm soát.... Để hiểu vấn đề này, chúng ta có thể phải xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như công tác lập, phê duyệt và quản lí thực hiện quy hoạch (Trong đó bao gồm cả hệ thống văn bản pháp quy). Chẳng hạn quy hoạch sử dụng đất trong đô thị còn đang “mắc” với quy hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai. Một đồ án Quy hoạch đô thị đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, lẽ đương nhiên đất đai (phần mở rộng) phát triển đô thị theo quy hoạch là đất đô thị. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy, chúng vẫn là vùng đất nông nghiệp, chính quyền có th vẫn còn là cấp xã... Và khi nghe tin đã có quy hoạch đô thị được duyệt thế là thị trường bất động sản bùng phá sôi động (công khai hoặc ngấm ngầm). Việc chuyển nhượng, mua đi, bán lại, đầu cơ đất đai không theo quy hoạch là chuyện thường tình mà chưa có chế tài nào điều tiết. Và cho đến khi thực hiện quy hoạch thì mọi việc về đất đai dường như đã an bài theo quy luật thị trường tự phát. Nếu ai đó cần thực hiện quy hoạch thì hãy chuẩn bị thật nhiều tiền để đền bù giải toả, hoặc không sẽ phải điều chỉnh lại quy hoạch đã được duyệt...

Mặt khác, trong quá trình phát triển đô thị, nhiều địa phương đã lấy phương thức phát triển các dự án “khu đô thị mới” làm “chiến lược” trọng tâm. Phương thức này cũng có những ưu điểm và về cơ bản đã và đang góp phần làm tăng quĩ nhà ở (với các căn hộ có chất lượng tốt hơn các căn hộ được xây dựng trước năm 1975), góp phần thay đổi diện mạo kiến trúc, có xu hướng hướng tới các đô thị hiện đại.... Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rõ hiện nay việc phát triển các dự án “khu đô thịmới” (chưa hẳn đã phải là các dự án mang tính chiến lược của một đô thị) còn đang thiếu một mô hình, một khuôn mẫu (thực tế, về bản chất, các dự án này hiện đang thiên về mô hình kinh doanh bất động sản hơn là một tầm nhìn cho phát triển bền vững đô thị).

Bởi thế, ở nhiều dự án chúng dường như luôn thiếu sự kết thúc, hoàn công; thiếu sự đồng bộ về cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và hạ tầng kĩ thuật, thiếu sự gắn kết với tổng thể đô thị (thường là đi “trệch” khỏi mục tiêu, nội dung ban đầu của quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết đã xác lập hoặc dự án đã được phê duyệt); và nhất là bản thân chúng (những khu đô thị mới) lại càng không tạo ra được công ăn việc làm để góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc trong phát triển KT-XH của đô thị. Chính điều đó, khu vực trung tâm cũ đô thị ngày càng bị chất tải, dồn nén, ách tắc giao thông, giá bất động sản gia tăng, di dân khó kiểm soát”. Suy cho cùng, nếu làm một bài toán nghiêm túc sẽ thấy hiệu quả của các dự án phát triển “khu đô thị mới” ở nhiều địa phương đã trở thành hiện tượng “phát triển ảo” trong các đô thị

Điều này cũng đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô đất đai xây dựng đô thị ở nhiều địa phương khi chưa có đủ cơ sở và luận cứ khoa học để chứng minh nhu cầu phát triển, tính khả thi, khả năng quản lí, điều kiện và chất lượng phát triển đô thị. Nhiều dự án, nhiều khu đô thị, nhiều diện tích đất lớn trong đô thị tuy đã có “chủ”, đã được “lấp đầy”... về mặt lí thuyết và pháp lí. Nhưng dường như chúng vẫn chỉ là những vùng đất cỏ dại với heo hắt những pa nô quảng cáo và hàng rào xiêu vẹo với thời gian (bởi chúng luôn là đối tượng để chuyển nhượng, đổi chủ... và thường bị dư luận xã hội kết án là “quy hoạch treo”). Việc tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch, quản lí xây dựng theo quy hoạch còn mang tính hình thức, hoặc mức độ tham gia còn rất giản đơn, chưa thấy rõ trách nhiệm, quyền lợi của các bên liên quan trong công tác quy hoạch, quản lí phát triển đô thị. Cộng đồng thường là các đối tượng bị động, thiếu các thông tin cần thiết để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi của mình. Đây là một kẽ hở không nhỏ mà quyền lợi cộng đồng bị xâm hại, ảnh hưởng tới tính dân chủ trong quá trình đổi mới Đất nước...

Mặt khác, công tác lập quy hoạch xây dựng tại Việt Nam cũng đang bị yếu tố thị trường tác động mạnh, có xu hướng cạnh tranh cao giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với nhau và giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với các tổ chức, cá nhân nước ngoài (như Nhật, Hàn Quốc, Mĩ, Anh, Singapore...). Thậm chí, nhiều chủ đầu tư còn có tư tưởng rất xính ngoại... Tất nhiên, với nước ngoài giá lập quy hoạch xây dựng phải theo thông lệ quốc tế, phải trả bằng “Đô” và giá thành thì cao ngất ngưởng. Trong khi chất lượng đồ án lại chưa có bất cứ tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền, có trách nhiệm nào đánh giá... Tất nhiên, về phương pháp luận, cách tiếp cận, xây dựng tầm nhìn trong các đồ án có yếu tố nước ngoài khác hơn so với cách làm truyền thống của Việt Nam. (Mà đôi khi chúng, chính chúng lại trở thành Bùa mê làm mê hoặc sự sáng suốt để ra quyết định của một số người)... Nhưng tính khả thi, sự phù hợp với hệ thống văn bản pháp qui, với trình độ phát triển KT-XH, văn hóa truyền thống của Việt Nam thì cón phải bàn rất nhiều. Chính vì thế, nhiều chủ đầu tư sau khi đã bỏ ra một khoản tiền lớn, thậm chí rất lớn chỉ có trong tay một Ý Tưởng và một Tầm Nhìn xa và rất xa... vời.

Trong thời gian qua, thực tiễn cũng đã khẳng định chất lượng đồ án QHXD của chúng ta (kể cả do tư vấn trong và ngoài nước thực hiện) là chưa tương xứng với nhu cầu phát triển. Cái gọi là “Quy hoạch treo” dường như là câu nói cửa miệng của nhiều người... Điều này cho thấy, năng lực hành nghề của một số tổ chức, cá nhân còn yếu kém. Phải chăng đội ngũ KTS, Quy hoạch sư của chúng ta chưa đủ mạnh, khả năng sáng tạo còn hạn chế? Nói như vậy có nghĩa công tác đào tạo của chúng ta chưa thật đến nơi đến chốn? Qua trao đổi với một số cán bộ được đào tạo bài bản ở nước ngoài, họ đều cho rằng công tác đào tạo của chúng ta cần phải thay đổi, phải nhanh chóng đổi mới để đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH-HĐH đất nước.

Về vấn đề này, nhiều người cho rằng, các trường đại học nước ngoài thường đóng vai trò là các trung tâm nghiên cứu và đào tạo lớn. Trong khi đó các trường đại học trong nước hiện nay chỉ đóng vai trò giảng dạy. Tài liệu cho học tập nghèo nàn, cũ, lạc hậu (phần lớn kế thừa từ những tài liệu dịch cũ của Nga cách đây hàng nửa thế kỉ...). Trong khi đó, những kiến thức cần thiết có thể áp dụng trong thực tế hiện nay lại chủ yếu dựa trên các tài liệu từ các nước phát triển. Một vị Phó khoa thuộc Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội cho biết: “Nhu cầu sách chuyên ngành, nâng cao đa phần chúng tôi tự xoay xở, bỏ tiền mua những tài liệu có khi chỉ nước ngoài có, giá thành không hề rẻ. Thư viện nhà trường chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ đối với các giảng viên”.

Từ thực tế trên cho thấy, lí luận và thực tiễn trong Quy hoạch xây dựng đang tồn tại nhiều bất cập do quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường tác động. Lí luận về Quy hoạch xây dựng đang chậm đổi mới hơn so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề vướng mắc trong Quy hoạch xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mà chưa có thể giải quyết được ngay... Bởi vậy, đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc xem xét, điều chỉnh lại tư duy trong công tác đào tạo Kiến trúc sư, Kiến trúc sư Quy hoạch, trong công tác quy hoạch xây dựng và quản lí xây dựng đô thị. Bên cạnh đó là việc cần thiết phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu chính sách phát triển đô thị-đô thị hóa, nghiên cứu lí luận về quy hoạch xây dựng; nghiên cứu ứng dụng tin học quy hoạch xây dựng; quy hoạch phát triển hạ tầng kĩ thuật đô thị, điểm dân cư nông thôn cũng như nghiên cứu quy hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đô thị; mở rộng quan hệ hợp tác trong nước, khu vực và quốc tế nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng và quản lí xây dựng theo quy hoạch. Đặc biệt, cần thiết phải đổi mới phương pháp, quy trình lập và cách thể hiện một đồ án quy hoạch xây dựng cũng như cần thiết phải thay đổi phương thức quản lí quy hoạch xây dựng phát triển đô thị.

Tư duy này phải mang tính hệ thống, có tầm nhìn chiến lược, phải có các biện pháp hợp lí để tổ chức thực hiện có hiệu quả. Kiến thức về Quy luật kinh tế thị trường tác động lên các vấn đề trong lĩnh vực Quy hoạch xây dựng còn đang được hiểu rất hạn chế ở Việt Nam. Nói cách khác, tác động (cả ưu, nhược) của quá trình đô thị hóa với cơ chế chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã, đang và sẽ còn làm cho chúng ta gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Một tư duy mang tính hệ thống không chỉ dành riêng cho lĩnh vực Quy hoạch xây dựng, mà nó đòi hỏi phải được điều chỉnh đồng bộ một cách tích cực từ hệ khung pháp lí hay từ các quy định chung Quốc gia. Theo đó, có thể phải xem xét tính đúng, tính phù hợp của các bộ Luật với Hiến pháp; xem xét tính đúng, tính phù hợp giữa các bộ Luật với nhau. Chẳng hạn Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thi, Luật Du lịch, Luật Giao thông đường bộ, Luật Môi trường... Hoặc các bộ Luật còn thiếu phải được xây dựng mới như Luật Quy hoạch vùng, Luật Quy hoạch các điểm dân cư Nông thôn...Tuy nhiên, trước mắt đối với đội ngũ hành nghề quy hoạch xây dựng, chúng ta cần phải đổi mới ngay công tác đào tạo chuyên ngành quy hoạch đô thị và nông thôn để phù hợp với thực tế và nhu cầu phát triển mới.

2. Quan điểm và phương thức đổi mới

(1) Trường đại học phải là một trung tâm nghiên cứu khoa học và giảng dạy lớn
Anh Minh Hà, một tiến sỹ ở Bỉ về và nhiều tiến sỹ khác so sánh: “Các trường đại học nước ngoài đóng vai trò là các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy lớn. Trong khi đó các trường đại học ở Việt Nam hiện nay chỉ đóng vai trò là giảng dạy... Việc tìm kiếm các nguồn tài liệu mới nhất và đề tài nghiên cứu khoa học là công việc sống còn đối với các giảng viên ở đại học nước ngoài và nếu không có đề tài, không tìm được nguồn kinh phí cho nghiên cứu khoa  , họ có thể bị mất việc”. Các trường đại học nước ngoài, thư viện là địa chỉ tốt nhất để tìm kiếm bất cứ tài liệu cần thiết nào trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam
hoàn toàn ngược lại. TS Nguyễn Đức Minh cho biết rõ hơn: “Chúng tôi cần chủ yếu là các bài báo khoa học - đây là các tài liệu cập nhật nhất trên thế giới. Hoặc thậm chí là các quyển sách vừa mới xuất bản. Đối với chúng tôi việc tìm kiếm các tài liệu này là rất quan trọng bởi vì chúng cho chúng tôi biết các thông tin về sự phát triển của khoa học trên thế giới, qua nó chúng tôi biết mình đang ở đâu và mình nên làm gì, mình nên dạy những điều gì, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu và học tập như thế nào. Tuy nhiên, những thông tin này không có trong thư viện của Việt Nam.

Thậm chí các bài báo bằng tiếng Việt của các tạp chí trong nước cũng rất khó kiếm ở trong thư viện đại học Việt.” Việc tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học tại các trường đại học là một yêu cầu tất yếu, khách quan, một đòi hỏi nghiêm túc của quá trình phát triển. Các sản phẩm N/C khoa học không những góp phần thúc đẩy phát triển KT – XH mà còn góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế tri thức trong qua trình hội nhập. Có N/C khoa học nhà trường mới luôn là một dòng chảy của tri thức, dòng chảy của thông tin; mới luôn là điểm hội tụ, giao lưu của các thành tựu khoa học, của sáng tạo, của những cái mới trong nước và quốc tế… Đồng thời là địa chỉ tin cậy cung cấp, trang bị phương pháp luận, nâng cao khả năng N/C khoa học, khả năng sáng tạo tốt nhất cho sinh viên. Một câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để nhà trường luôn là điểm hội tụ của những sáng tạo, những thông tin mới liên quan đến lĩnh vưc ngành; là nơi hấp dẫn thu hút những người trẻ? là nơi có thể tham gia góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc của ngành...?

(2) Thay đổi, thường xuyên cập nhập thông tin, dữ liệu làm mới giáo trình giảng dạy
Cũng theo TS Minh Hà: “Sách tiếng Việt thì không dùng được cho những nghiên cứu vì chỉ đáp ứng được ở mức khái niệm hoặc kiến thức cơ bản, còn để đi làm thực sự trong những doanh nghiệp hoặc công ty nước ngoàithì phải học thêm từ sách tiếng Anh”. Anh Hà còn cho biết thêm: “Sách tiếng Việt thì không thể đọc được, vì luôn tìm thấy một cuốn tiếng Anh nội dung tương tự nhưng đầy đủ và tốt
hơn rất nhiều.” Còn chị Thanh Hải, tiến sỹ 322 ở Pháp chia sẻ: “Sinh viên rất thiệt thòi vì không có ai hướng dẫn các em tiếp cận kho tàng kiến thức khổng lồ và cập nhật hàng ngày trên thế giới. Trong khi đó, không ít những điều các em học có từ 20-30 năm trước đã trở thành lạc hậu. Nếu giảng viên có tâm, họ sẽ giúp sinh viên mở ra kiến thức hiện đại nhưng nếu chỉ là những người dạy hết giáo trình thì sinh viên
mãi chỉ là ếch ngồi đáy giếng.” Vì vậy, theo nhiều giảng viên, không tiếp cận được với nguồn tài liệu nước ngoài là một thiệt thòi lớn của sinh viên Việt, ngành. Thậm chí, hầu hết sinh viên chưa bao giờ đặt ra câu hỏi đó vì thói quen giáo trình tức là kiến thức chuẩn, là bất biến, là đáp ứng các kỳ thi. Những tài liệu nước ngoài ít ỏi trong thư viện nhà trường vì thế cũng đành chờ thời gian phủ bụi.

Để có được một KTS, nhất là để có được một KTS quy hoạch, một nhà quy hoạch đô thị có năng lực hành nghề đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội, thì họ cần thiết phải được trang bị nhiều tri thức hơn nữa về đô thị... Thực tế hiện nay, Việt Nam đang cần thiết phải đổi mới phương pháp, quy trình lập quy
hoạch xây dựng cho phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập. Phương pháp, quy trình lập quy hoạch xây dựng truyền thống đang có nguy cơ là rào cản chất lượng đô thị hóa, thất thoát nguyền tài nguyên, ảnh hưởng tới phát triển bền vững. Vậy, chúng ta rất cần luôn phải thay đổi, phải cập nhật thông tin, dữ liệu làm mới giáo trình giảng dạy...! Nhà trường phải xây dựng thư viện đủ mạnh, xây dựng hệ thống thông tin,
dữ liệu chuyên ngành thông qua việc cập nhật thông tin, dữ liệu từ nhiều nguồn trong nước và quốc tế. Khuyến khích giảng viên cập nhật thông tin, dữ liệu làm mới giáo trình giảng dạy. Tạo sự hào hứng cho sinh viên chủ động tìm kiếm, tham khảo nguồn thông tin, dữ liệu mới có liên quan đến chuyên ngành đào tạo.

(3) Đổi mới phương pháp giảng dạy
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học vẫn đang còn là một cuộc vận động sôi nổi của cả ngành giáo dục chứ không chỉ riêng giáo dục
đại học. Đây là một nhu cầu thực tiến, khách quan của quá trình CHH-HĐH đất nước. Để đổi mới phương pháp dạy học cần phải: Thường xuyên nâng cao khả năng, trình độ giảng dạy của đội ngũ giảng viên. Cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, và đào tạo lại về nghiệp vụ sư phạm cho họ; tạo điều kiện
để đội ngũ này luôn có cơ hội tiếp nhận những thông tin, những tri thức mới. Đội ngũ giảng viên phải là lực lượng nòng cốt trong công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường; lực lượng tiên phong trong tư duy sáng tạo, đổi mới. Cần phải xây dựng một hệ thống cấp bậc trong giảng viên. Các giảng viên phải qua giai đoạn làm trợ giảng trước khi chính thức trở thành giảng viên. Các giảng viên có thâm niên, có học vị, có khả năng cần được bớt giờ dạy để nhận nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chương trình học của bộ môn và chương trình đào tạo của ngành học; tập trung hướng dẫn các sinh viên, nhóm sinh viên ưu tú tham gia công tác nghiên cứu khoa học, giải quyết những vấn đề thực tiễn của ngành trong xã hội.

Khuyến khích, tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Cân đối lai tỷ lệ giờ học trên lớp và giờ tự học, tự nghiên cứu khi xây dựng và thực hiện học chế tín chỉ, số giờ tự học, tự nghiên cứu nhất thiết phải nhiều hơn số giờ học trực tiếp với giảng viên trên lớp. Chế độ làm việc của giáo viên cần phải quan tâm tính đến công việc hướng dẫn việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, và giờ làm việc với sinh viên qua email, trực tuyến… Tăng cường dạy kỹ năng tư duy cho sinh viên. Quá trình dạy học phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu và năng lực của sinh viên. Sinh viên tích cực để hiểu biết, tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, phát triển kỹ năng, thành thạo tay nghề và có lương tâm nghề nghiệp, và tất nhiên là, khi đánh giá kết quả học tập của sinh viên phải kết hợp đánh giá cả sự phát triển tư duy chứ không chỉ có tích lũy tri thức.

(4) Tạo nguồn hứng khởi giảng dạy, học tập cho giảng viên và sinh viên
Không nên biến các giờ học trên lớp thành cứng nhắc, ép buộc. Tất cả cần phải thoải mái, tự nguyện. Việc dạy học cần lấy “người học làm trung tâm”, cần từ bỏ lối dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều, các hoạt động học tập đơn điệu thầy nói - trò nghe, thầy đọc - trò chép, thầy trình diễn - trò xem, và thi cử theo lối đánh giá khả năng ghi nhớ - tái hiện. Tỷ lệ giờ học trên lớp của sinh viên đại học hiện nay có thể còn quá cao, thời gian dành cho tự học, tìm kiếm thông tin, tri thức mới còn rất hạn chế. Mặt khác có thể do giáo viên thường hay đưa ra kết luận “có sẵn” cho sinh viên trong mọi lời giải, đã làm buổi học kém hấp dẫn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc dạy kiến thức vẫn đang được chú trọng hơn việc dạy kỹ năng tư duy, khả năng tự làm chủ trong quá trình tiếp nhận kiến thức.Làm sao có thể xóa rào cản ngăn cách giữa thày và trò, tạo ra sự bình đẳng cần thiết trong các giờ học, khuyến khích sinh viên tự tin làm chủ bản thân tham gia tích cực vào quá trình giảng dạy của giáo viên? Giảng viên cần coi sinh viên là những người bạn có thể tự tin trong trao đổi, tranh luận mọi vấn đề.

Đồng thời nhà trường cần có thêm các giảng viên là các chuyên gia có kinh nghiệm thực tế từ các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước tham gia giảng dạy. Tăng cường khả năng hợp tác, trao đổi nội dung đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận nguồn thông tin mới. Nhà trường, giáo viên cần nỗ lực tăng cường phối kết hợp trong việc xây dựng phát triển hệ thống thông tin, dữ liệu, xây dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của nhà trường. Bổ sung nguồn lực thông tin tư liệu, nhất là nguồn tài liệu điện tử, thông qua việc mua bán, trao đổi cơ sở dữ liệu chuyên ngành với
các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trong và ngoài nước... Tạo dựng môi trường hấp dẫn, thuận tiện trong giảng dạy, học tập.

(5) Kết hợp giữa đào tạo và thực tiễn
Đừng quan niệm rằng đào tạo là chỉ trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản về chuyên ngành quy hoạch đô thị và nông thôn, đủ điều kiện, phương tiện để ra trường hành nghề được. Phải nhận thức rằng, đó mới chỉ là những kiến thức cơ bản, mà đôi khi lượng kiến thức này còn có những hạn chế vì cũ, lạc hậu, không phù hợp với mô hình đổi mới của đất nước hay thực tế đang diễn ra hàng ngày. Việc học đi đôi với hành là phương pháp đào tạo truyền thống, nhưng dường như vẫn còn nguyên giá trị. Phải khẳng định rằng, thời gian qua sinh viên chưa được tiếp cận với thực tiễn nhiều. Thậm chí còn mơ hồ về quá trình CNHHĐH, về quá trình đô thị hóa tại Việt Nam. Họ chưa thể hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ ràng: Đô thị hóa được hiểu như một quá trình kinh tế-xã hội lịch sử mang tính quy luật trên quy mô toàn cầu. Nó được xem như quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại; ở đó bên cạnh mặt dân số, địa lí, môi trường còn có mặt xã hội... Một cách hiểu khác, về khía cạnh văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị (hoặc văn hóa nông nghiệp thành văn hóa công nghiệp). Về khía cạnh kinh tế thì đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Qúa trình đô thị hóa này là một tiến trình tất yếu song hành với lịch sử phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới... Có thể lí thuyến và thực tiẽn phát triển ở Việt Nam còn có khoảng cách lớn, chưa có đủ điều kiện để cân bằng. Ở một số nước phát triển, chẳng hạn như Nhật Bản những người trẻ tuổi luôn được đi bên cạnh những người có kinh nghiệm, lớn tuổi hơn để học tập, thực hành. Hoặc phải tham gia giải quyết một công việc cụ thể có liên quan trước khi được hành nghề chính thức. Ở Việt Nam, thời gian thực tập của các sinh viên tại các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh đôi khi còn nặng hình thức. Sinh viên đến và đi... Còn trong khoảng thời gian đó họ làm gì, ở đâu thì chỉ có chính họ biết.

Cách học, thực hành hời hợt, đối phó, thụ động sẽ chỉ tạo ra những cán bộ có năng lực chuyên môn yếu kém, xã hội sẽ phải gánh chịu nhiều hệ lụy khôn lường. Để giải quyết vấn đề này, trước hết sinh viên có quyền, trách nhiệm cập nhật tri thức, cập nhật thông tin mới... Đừng để sinh viên phải “thiệt thòi vì không có ai hướng dẫn các em tiếp cận kho tàng kiến thức khổng lồ và cập nhật hàng ngày trên thế giới. Trong khi đó, không ít những điều các em học có từ 20-30 năm trước đã trở thành lạc hậu…”. Cần tăng cường thêm cho sinh viên thời gian tiếp cận với các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh, với các địa phương... để tìm hiểu, trao đổi, học tập; tổ chức các buổi học trên lớp hoặc hội thảo chuyên đề tại trường, tại các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh do các chuyên gia có kinh nghiệm thuyết trình...; tổ chức thăm quan thực tế tại địa phương. Nhà trường cũng cần lựa chọn các đồ án cụ thể, có chất lượng để làm tài liệu tham khảo cho sinh viên. Các đồ án báo cáo điển hình của sinh viên ngoài tính khoa học, nghệ thuật phải được đề cao thêm tính thực tiễn, tính khả thi.

Kết quả tốt nghiệp, sinh viên buộc phải tham gia thêm để tính điểm một đồ án hoặc một báo cáo chuyên đề cụ thể trong quá trình thực tập và phải có sản phẩm thực hiện báo cáo thực tập tại nhà trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Strategic Spatial Structure Planning- Jef Van den Broeck,KU Leuven
2. Điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050(VIAP)
3. Trang Google/Đổi mới phương pháp giảng dạy ở đại học

 

 

(Nguồn:TS. Trương Văn Quảng - Tạp chí quy hoạch (Số 83+84))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website