Đào tạo ngành kiến trúc trước làn sóng công nghiệp hóa lần thứ tư

Một số đặc điểm đào tạo KTS và làn sóng Công nghiệp hóa 4.0 Trong lĩnh vực kiến trúc, cho đến nay có khoảng 30 cơ sở đào tạo kiến trúc sư (KTS) [1]. Hiện có 1 trường (ĐH Xây dựng) thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1 trường (ĐHBK TP.HCM) thuộc ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2 trường (ĐH Kiến trúc Hà Nội và TP.HCM) thuộc Bộ Xây dựng và các trường còn lại thuộc quản lý địa phương. Quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi các cơ sở đào tạo kiến trúc phải nâng cao chất lượng và khẳng định tính đặc thù sản phẩm đào tạo của mình.

Các trường chỉ ra mô hình hợp tác, chương trình tiên tiến, chất lượng cao và mở ngành mới, đổi mới chương trình và chuẩn đầu ra (CDIO, Canberra) [3]tại hội thảo “đào tạo Kiến trúc và các ngành thiết kế, xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa” ngày 24.10.2016 do ĐHKT TP.HCM tổ chức. Báo cáo hội thảo cho thấy: khoảng 10% KTS có năng lực tốt (sáng tạo ý tưởng, chủ nhiệm dự án), 30% số KTS khác không làm nghề và số còn lại triển khai kỹ thuật dự án [1].

Mặt khác trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, KTS chúng ta đã phải lùi bước ngay trên “sân nhà” vì thiếu tính chuyên nghiệp, chuyên sâu và tinh thần - cơ chế hợp tác nhóm và hoạt động kém hiệu quả, đồng thời, thiếu kinh nghiệm quản lý và giao thương quốc tế. Vì thế, nhiều năm qua, sản phẩm đào tạo (KTS) của chúng ta (KTS trong nước, viết tắt- KTS.tn) rất khác so với các KTS được đào tạo trên thế giới (KTS nước ngoài, viết tắt- KTS.nn) bởi quan niệm chuẩn KTS đầu ra theo hướng thiên về giáo dục đại cương và học thuật hơn là ứng dụng thực hành. Kết quả trên phần nào chỉ ra vấn đề của hệ thống đào tạo theo lối “truyền thống”; đồng thời, cảnh báo các trường có nguy cơ “mất trắng” [2] nếu không chịu thay đổi tư duy và cách làm; nhất là giai đoạn cuối cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Thời đại của một số công nghệ đã và đang hỗ trợ trong lĩnh vực kiến trúc như: máy in 3D (3D- printing), robot thiết kế và tạo khối (ETH, Zurich 2010), không gian kiến trúc mô phỏng (NUS, 2009), mô hình thông tin xây dựng (BIM) và phần mềm thiết kế - số hóa, internet of things (IoT) và máy móc thông minh.

Đầu năm 2016, làn sóng công nghiệp hóa lần thứ 4 (industry 4.0) đã được đề cập tới tại diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) Davos. Hiểu cách khác, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) được xây dựng dựa trên cuộc CMCN lần thứ 3 [6] với nền tảng mạng kỹ thuật số và điện tử - đã xuất hiện từ giữa thế kỷ trước. Lần này là sự hợp nhất, tích hợp các loại công nghệ và xóa bỏ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, rô-bốt và công nghệ không dây liên ngành bằng hệ thống thực ảo “Cyber- Physical System” (CPS) [4]. Với tốc độ phát triển cấp số mũ, nhiều quốc gia đã có những hoạt động áp dụng, triển khai cho cuộc CMCN 4.0 này vào từng lĩnh vực kinh tế, đào tạo và quản lý càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh - mạnh hơn.

Xu hướng phát triển đô thị hướng tới mô hình thông minh

Ban đầu, đô thị được hình thành từ mối gắn kết làng xóm và sắp xếp tạo nên các trung tâm - nơi gặp gỡ văn hoá - tín ngưỡng, duy trì và phát triển xã hội. Kế đến là sự hình thành, tồn tại các đô thị cổlịch sử, đô thị trung cổ, đô thị tân cổ điển. Sau đó, các đô thị công nghiệp, rồi thành phố tương phản. Trong thời kỳ dân số thế giới bùng nổ, Le Corbusier đã đưa ra mô hình đô thị không tưởng. Từ đó dự báo cho xu hướng đô thị hiện đại trong và sau Thế chiến thứ I, rồi đến thành phố vành đai xanh. Thế kỷ 19, hàng loạt quốc gia chạy đua xây dựng kiểu đô thị thực dụng và nén. Thế kỷ sau đó là đô thị sinh thái và bền vững.

Trong một thập kỷ gần đây, đô thị đã chuyển từ hình thức chức năng sang sinh thái kinh tế, rồi đến thích ứng với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh [7]. Kế đến, đô thị xanh được đưa ra nhằm phát huy đặc điểm môi trường, giảm thiểu phát thải Cacbon và sử dụng năng lượng tái tạo, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói. Gần đây nhất (11/2016), Việt Nam đang phát động mô hình đô thị thông minh (sự kết hợp giữa không gian đô thị và công nghệ thông tin), trong đó có TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và 6 thành phố khác, cho hướng phát triển 10-20 năm tới [3].

Xu hướng “Nén gọn” trong đào tạo KTS

Trước làn sóng CMCN 4.0 và mô hình đô thị thông minh quốc gia nêu trên, công tác thiết kế như một hoạt động lồng ghép sáng tạo đa ngành - nhằm tạo nên sự khác biệt trong việc sử dụng vật liệu, kết cấu, công nghệ và các nguồn lực để đảm bảo sự cân bằng và phát triển hài hòa [3].Với tốc độ phát triển nhanh diễn ra trên toàn cầu, xu hướng rút gọn- cô đọng chương trình đào tạo chuyên ngành kiến trúc, xu hướng “nén gọn” trong giảng dạy ngành kiến trúc được thực hiện giữa các cơ sở đào tạo uy tín trên thế giới (CH Pháp, Singapore…) hơn một thập kỷ qua. Trong đó, Khoa Kiến trúc, Đại học Quốc Gia Singapore là một trong những cơ sở đào tạo KTS - hệ đại học trong 4 năm. Mỗi năm học, sinh viên tập trung vào chủ đề chuyên sâu của mục tiêu đào tạo.

Đính hướng đổi mới đào tạo ngành Kiến trúc trong nước

Mục tiêu đào tạo KTS trong “Thế giới biến đổi”

Đổi mới mục tiêu đào tạo cần sớm thích nghi với chiến lược phát triển đô thị toàn cầu và quốc gia để làm cơ sở đào tạo nên KTS có “tài, tâm và tầm”, đó là: có lối tư duy sâu rộng và sức sáng tạo khoa học, đầy đủ kỹ năng giao tiếp và kiến thức; Am hiểu chuyên môn, văn hoá- xã hội và có ý thức tự trau dồi và công nghệ thông tin- số hóa; Vận dụng linh hoạt kiến thức được trang bị; Thích ứng và có khả năng hợp tác bền vững, làm việc nhóm năng động - trách nhiệm - chuyên nghiệp với đồng nghiệp trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó, một số hướng dịch chuyển tiên tiến cho từng giai đoạn, như: (i)nội dung đánh giá đầu vào; (ii)thời gian đào tạo; (iii)cơ hội tiềm năng, được luận bàn dưới đây.

 Sự dịch chuyển từ-thi “Năng khiếu” sang-tuyển “Tài năng”

Với mục tiêu đào tạo ngành Kiến trúc trong thời CMCN 4.0, KTS có hệ thống tư duy tốt và khả năng thích nghi cao, công tác đánh giá chất lượng đầu vào cần có bước tịnh tiến đến cácnội dung có thể chọn lọc được những ứng viên có phẩm chất đáp ứng được mong muốn và mục tiêu đề ra. Ngoài các môn thi bắt buộc Toán - Lý, để có thể thi Vẽ Mỹ thuật như hiện nay, thí sinh sẽ phải luyện kỹ năng vẽ tại các nơi khác nhau. Cho nên, năng khiếu và kỹ năng vẽ của sinh viên khi ra trường thường có độ vênh so với chuẩn mực. Trong khi đó, kỹ năng vẽ chỉ là một giải pháp cụ thể hoá tư tưởng của người làm kiến trúc và cần thiết cho một số giai đoạn.

Qua bài vẽ mỹ thuật (thiên về kỹ thuật thể hiện), chúng ta khó đưa ra được những đánh giá toàn diện từng thí sinh trong lĩnh vực Sáng tạo - Kỹ thuật. Điều băn khoăn này được thủ khoa ĐH Kiến trúc Hà Nội nêu ra: môn Vẽ, ngoài có năng khiếu, các em học sinh còn thiếu kỹ năng tư duy cũng như khả năng làm bài[3]. Hơn nữa, sinh viên đôi khi được đào tạo lại theo chuẩn từng trường. Qua đó cho thấy sự lãnh phí: nguồn lực và tài nguyên khi phải thay đổi những gì sinh viên đã được rèn luyện trước đó. Do đó, kết quả và sản phẩm KTS của các đơn vị đào tạo sẽ khó trọn vẹn.

Khác với chúng ta, một số trường tiến tiến trên thế giới đã thay đổi cách đánh giá nội dung tuyển sinh đầu vào. Nội dung môn thi yêu cầu thí sinh phải thể hiện được đầy đủ phẩm chất “Tài năng” của thí sinh, bao gồm 2 phần:

  1. Khả năng tư duy và hùng biện của thí sinh.
  2. Khả năng tổ chức, thể hiện không gian hình khối vật thể kỹ thuật- 3D (dimensions) bằng sự khéo léo của đôi tay gắn với cách thức diễn giải logic và thuyết phục hội đồng chấm thi.

Rõ ràng, giai đoạn này chưa đặt nặng yêu cầu về kỹ năng vẽ bởi sau khi nhập học họ sẽ được học vẽ mỹ thuật bài bản và chuyên sâu theo tiêu chuẩn của Trường. Kết quả cho thấy, KTS của họ đều có khả năng vẽ tốt; quan trọng hơn, là thể thể hiện chính xác những suy nghĩ, tư duy vượt trội và diễn giải thuyết phục từ: Ý tưởng kiến trúc cho tới giải quyết các vấn đề Kỹ thuật thực tế một cách tổng thể, toàn diện và chuyên nghiệp. Nếu tham chiếu với chúng ta thì môn thi năng khiếu cần có hướng tinh chỉnh từ “Năng khiếu: Vẽ mỹ thuật” sang “Tài năng: Tư duy biện luận- tổ hợp hình khối”.

Thách thức “Thời gian”

Nghiên cứu mở rộng cho thấy, một số Quốc gia phát triểnđã nhận thấy rõ giá trị “Thời gian là vàng” nên có những điều chỉnh khung thời gian đào tạo chuyên ngành kiến trúc, ở bậc đại học, từ 5 năm xuống 4 năm. Việc rút ngắn thời gian đào tạo cung cấp cho KTS khi ra trường có nhiều lợi thếtrong một thế giớibiến đổi và xu hướng đô thị toàn cầu. Đồng thời, lứa KTS mới ra trường có cơ hội tham gia chương trình Thạc sỹ 1 năm kế tiếp. Như vậy, các KTS này đã vươn tới trình độ cao và học vị Thạc sỹ, được coi như thế hệ “KTS+”, sau 4+1 năm học tập liên tục và chắc chắn có trình độ tốt hơn KTS các nước xung quanh theo hệ thống 5+2 (3) năm học tại thời điểm tốt nghiệp.

Thực tế, xuất phát điểm của các KTS+ đó cao hơn chúng ta một bậc - đã tạo nên sức hấp dẫn của chương trình đào tạo. Về mặt tâm lý của chủ đầu tư và người sử dụng lao động, các KTS.nn có phần được trọng dụng hơn so với đội ngũ KTS.tn. Nhiều dự án lớn, KTS.nn thường được giao và thực hiện công việc chính- xem như “phần ngọn màu mỡ nhất”; trong khi KTS.tn dường như luôn đi sau - triển khai công việc kỹ thuật phức tạp - như những “phần gốc khó xử”- luôn đòi hỏi nhiều sự đầu tư song hiệu quả kinh tế đem lại chưa cao.

Với xu thế trên, những chiến lược chuyển đổitheo hướng “nén gọn, cô đọng chương trình giảng dạy” và “rút ngắn thời gian đào tạo”, sẽ đem lại cho sinh viên và cơ sở đào tạo thêm cơ hội; xã hội thêm nguồn lực để sớm thích nghi với những thách thức biến đổi đô thị- kiến trúc toàn cầu.

Cơ hội tiềm năng và Định hướng chuyên Ngành

Từ chiến lược phát triển kinh tế toàn cầu Rio+ 20, phát triển đô thị xanh và bền vững, ưu tiên phát triển Kiến trúc xanh, giải pháp- công nghệ,CMCN 4.0liên quan và chất lượng môi trường được sẽ từng bước được cụ thể hoá tại Việt Nam. Mặt khác, tiêu chí KTS thế giới đòi hỏi sự hoàn thiện và tính chuyên nghiệp ngày càng cao hơn. Vì vậy, những yếu tố Ngoại lực sớm ảnh hưởng và dẫn dắt chương trình đào tạo KTS theo xu hướng: (1) kiến trúc xanh; (2) đô thị bền vững, (3) thành phố thân thiện con người; (4) đô thị thông minh - được nhận ra như những cơ hội tiềm năng cho chương trình đào tạo KTS.

Mô hình đào tạo thích ứng với định hướng phát triển hình thái kiến trúc

Ngoài ra, để đưa ra những định hướng chuyên Ngành hiệu quả và khả thi cần lưu tâm một số điểm, đó là:

  • Nắm bắt và nhận diện đầy đủ yếu tố Nội - Ngoại lực.
  • Cụ thể hóa định hướng chiến lược đào tạo của Trường và Ngành.
  • Soát xét lại chương trình đã thực hiện và chất lượng sinh viên đào tạo (điểm mạnh, yếu điểm).
  • Điều chỉnh mục tiêu và khung chương trình đào tạo KTS, KTS+ và sự cân bằng giữa KTS.nn với KTS.tn.
  • Lập và vi chỉnh kế hoạch thực hiện (bao gồm các hoạt động liên quan đào tạo, hoàn thành mục tiêu) theo giai đoạn: ngắn hạn (2 năm), trung hạn (5 năm) và; tầm nhìn dài hạn (10-15 năm).
  • Phân tầng - nhóm nhằm thúc đẩy và giám sát quá trình triển khai thực hiện (có điều chỉnh khi cần thiết).
  • Khẩn trương xây dựng môn học - có tính đột phá và làm mũi nhọn - toát lên đặc trưng riêng của chương trình đào tạo ngành Kiến trúc cấp Trường và Khu vực.
  • Kiện toàn bộ máy; hoàn thiện cơ chế, chính sách chuyên biệt cho Ngành; chuẩn bị các nguồn lực dồi dào và sự hỗ trợ cần thiết từ các cấp, tư vấn thiết kế, cơ sở sản xuất và đơn vị đào tạo chung quanh.
  • Lồng ghép, cô đọng và nén gọn nội dung - môn học lý thuyết tối đa - để từ đó có thể mô phỏng hóa từng phần lý thuyết - khuyến khích sinh viên sử dụng công nghệ tương tác đa chiều một cách hiện đại và thực tế nhất.
  • Xây dựng “mô hình trường học trực tuyến” hướng tới đa dạng đối tượng đồng thời, khuyến khích ngành kiến trúc có thể học mọi lúc - mọi nơi.

Thay cho lời kết

Để cụ thể hoá các chiến lược toàn cầu và đón làn sóng CMCN 4.0, vai trò và năng lực của người làm kiến trúc được quan tâm đặc biệt để sớm giải quyết được các vấn đề đô thị và cải thiện chất lượng cuộc sống ở Việt Nam. Nhìn nhận Nội lực - Ngoại lực liên quan công tác đào tạo KTS, là cơ sở cho một số tiếp cận nâng cao năng lực KTS. Hơn nữa, nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo ngành Kiến trúc, các Trường cần phải thực hiện việc nâng cao năng lực đào tạo KTS ngay từ khâu đào tạo - nghiên cứu gắn với công tác thiết kế, quy hoạch và xây dựng đô thị. Cuối cùng, một số hướng tiếp cận - theo tầng bậc: Nén gọn, Tài năng, Thời gian và Cơ hội, là một phần nội dung cần được quan tâm trong công tác đổi mới chương trình đào tạo KTS ứng phó quá trình toàn cầu hóa nhanh hơn trong giai đoạn sắp tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. N.Q. Thông (2016), Hội Kiến trúc sư Việt Nam với công tác đào tạo Kiến trúc sư. Hội thảo Đào tạo Kiến trúc và các ngành thiết kế, xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa. 24/10/2016. Tp. HCM.
  2. L.V. Thương & N.T.B. Ngọc (2016), “Tính trung tâm” về đào tạo và nghiên cứu khoa học của đại học truyền thống trong xu hướng toàn cầu hóa. Hội thảo Đào tạo Kiến trúc và các ngành thiết kế, xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa. 24/10/2016. Tp. HCM.
  3. N.M. Hùng (2013, 2016)., Đào tạo kiến trúc sư và các chuẩn mực trong xu hướng toàn cầu hóa. Hội thảo Đào tạo Kiến trúc và các ngành thiết kế, xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa. 24/10/2016. Tp. HCM.
  4. Express News Service  (2016)., Fourth Industrial Revolution: what it means, why it’s being discussed. Internet:
  5. indianexpress.com/article/explained/fourth-industrial-revolution-what-it-means-why-its-being-discussed/
  6. N. Hồng (2016). Giáo dục đại học đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Internet: dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/giao-duc-dai-hoc-dung-truoc-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-40-20161022093914305.htm
(Nguồn:Quang Hà - Tạp chí quy hoạch (Số 83+84))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website