Đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là cái nôi đầu tiên đào tạo các Kiến trúc sư Quy hoạch, trong nhiều năm qua, trường đã cung cấp một lực lượng lớn Kiến trúc sư Quy hoạch có chất lượng cho đất nước. Trước những biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập trong đào tạo, các sản phẩm và chương trình học tập của Nhà trường cần phải đổi mới để tương đồng với các nước trong khu vực cũng như thế giới, tạo điều kiện thuận lợi khi liên kết, hợp tác quốc tế, đồng thời đáp ứng các yêu cầu thực tiễn xây dựng đô thị và nông thôn Việt Nam.

Bài viết trình bày một số vấn đề về thực trạng chương trình đào tạo Kiến trúc sư Quy hoạch của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và phương hướng khắc phục để nâng cao chất lượng đào tạo, liên kết liên thông với các nước.

Đặt vấn đề
Năm 1992, Khoa Quy hoạch (tiền thân của Khoa quy hoạch đô thị & nông thôn ngày nay) - chính thức được thành lập, tách ra khỏi Khoa Kiến trúc - Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Và từ thời gian đó đến nay, đây là cái nôi đào tạo Kiến trúc sư quy hoạch (KTSQH), cung cấp một phần lớn nhân lực làm công tác Quy hoạch xây dựng cho các Viện nghiên cứu, các cơ quan Quản lý, các công ty Tư vấn quy hoạch xây dựng,... trong phạm vi cả nước.

Không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo để cung cấp các sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động là mục đích lớn nhất của Nhà trường và Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn. Hàng năm Hội đồng Khoa học của Nhà trường tiến hành rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo để cập nhật những cái mới, giải quyết kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Trong thời gian từ năm 1992 đến nay Khoa Quy hoạch đã tiến hành hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2 đề tài cấp trường về cải tiến chương trình đào tạo dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ Xây dựng, của Nhà trường. Ngoài Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là cái nôi đầu tiên đào tạo các Kiến trúc sư Quy hoạch, trong nhiều năm qua, trường đã cung cấp một lực lượng lớn Kiến trúc sư Quy hoạch có chất lượng cho đất nước. Trước những biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập trong đào tạo, các sản phẩm và chương trình học tập của Nhà trường cần phải đổi mới để tương đồng với các nước trong khu vực cũng như thế giới, tạo điều kiện thuận lợi khi liên kết, hợp tác quốc tế, đồng thời đáp ứng các yêu cầu thực tiễn xây dựng đô thị và nông thôn Việt Nam.

Bài viết trình bày một số vấn đề về thực trạng chương trình đào tạo Kiến trúc sư Quy hoạch của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và phương hướng khắc phục để nâng cao chất lượng đào tạo, liên kết liên thông với các nước. ra còn có các đề tài cấp trường khác đề xuất cải tiến hệ thống các đồ án, biên soạn lại giáo trình bài giảng các môn học lý thuyết. Nhờ có sự nỗ lực thường xuyên cải tiến chương trình đào tạo, trải qua gần 25 năm, sản phẩm của Nhà trường - các Kiến trúc sư Quy hoạch - đã nhanh chóng đáp ứng được các yêu cầu của cơ sở tuyển dụng, đóng góp cho công cuộc xây dựng và kiến tạo đô thị, nông thôn trên toàn quốc. Tuy nhiên hiện nay, chương trình đào tạo và sản phẩm của Nhà trường còn có nhiều điểm chưa tương đồng với các nước trên thế giới.

Điều này cản trở sự hợp tác, trao đổi trong đào tạo Quy hoạch giữa trường Đại học Kiến trúc Hà Nội với Quốc tế. Hơn nữa, trong những năm gần đây, công tác quy hoạch xây dựng tồn tại nhiều bất cập do quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Lý luận về Quy hoạch xây dựng đang chậm đổi mới hơn so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề vướng mắc trong Quy hoạch xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mà chưa có thể giải quyết được ngay... Vì vậy, Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn cần phải xem xét một cách hệ thống các vấn đề của thực tiễn Việt Nam cũng như trên thế giới để có những giải pháp cải tạo, đổi mới chương trình đào tạo nhằm đạt được cả hai mục tiêu: Đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế.

Khó khăn và thách thức
Sự khác biệt lớn nhất giữa chương trình đào tạo chuyên ngành Quyhoạch của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội với các nước khác trên thế giới là sản phẩm đào tạo. Sản phẩm của nhà trường với tên gọi: Kiến trúc sư Quy hoạch gây khó khăn khi hợp tác đào tạo với nước ngoài. Đặc biệt là để dịch thuật các văn bằng cũng như giới thiệu về chương trình đào tạo với anh em bè bạn. Mô hình đào tạo hiện nay đang áp dụng có một số nét giống các nước Đông Âu (XHCN cũ) như Nga, Đức, Tiệp, Balan. Ở các nước này, theo thông lệ, các Kiến trúc sư (KTS) được đào tạo có khả năng sáng tác thiết kế (Design) các sản phẩm liên quan đến kiến trúc, bao gồm cả nội ngoại thất và mỹ thuật công nghiệp. Một số các KTS có thể đi chuyên sâu về quy hoạch, có khả năng thực hiện các đồ án quy hoạch chi tiết nhỏ, thiết kế đô thị hoặc kiến trúc cảnh quan. Các KTS khi thi nhận đầu vào đều phải trải qua bài thi
Mỹ thuật và trong các năm học đầu tiên đều học Mỹ thuật để tăng cường khả năng tạo hình.

Tuy nhiên ở các nước này sản phẩm vẫn được gọi là KTS dù họ có hoạt động trong lĩnh vực quy hoạch. Còn một đội ngũ chuyên gia nữa cũng tham gia công tác lập quy hoạch không gian nhưng không phải là KTS, đó là các nhà Đô thị học, nhà Quy hoạch đô thị (Urban Planner). Các chuyên gia này có khả năng phân tích, đánh giá, dự báo và lập kế hoạch, chiến lược phát triển các vùng lãnh thổ rộng lớn, hoặc một đô thị, nông thôn... Đội ngũ này được đào tạo không qua kiểm tra năng khiếu Mỹ thuật và chương trình đào tạo nghiêng về các kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngoài ra, cũng phải kể đến các kỹ sư hạ tầng kỹ thuật đô thị - đóng vai trò quan trọng trong các đồ án Quy hoạch.

Tuy nhiên, đây là chuyên ngành khác nên tác giả không bàn đến ở bài viết này. Các trường đào tạo quy hoạch trên thế giới có phân biệt rõ ràng giữa hai loại sản phẩm đào tạo đó là Thiết kế đô thị (Urban Designer) và Quy hoạch đô thị (Urban planner). Điểm khác biệt căn bản giữa hai chương trình đào tạo này là loại thứ nhất có thi tuyển đầu vào mỹ thuật, sinh viên tốt nghiệp phải hoàn thành và bảo vệ đồ án. Loại thứ hai hoàn toàn không liên quan đến mỹ thuật, sinh viên tốt nghiệp bằng luận văn. Tên gọi sản phẩm đào tạo như vậy dẫn đến chương trình đào tạo KTS quy hoạch của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội phải tích hợp từ ba mảng kiến thức lớn của 4 chuyên ngành: Kiến trúc công trình - Quản lý đô thị - Hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Trong 5 năm học, sinh viên quy hoạch vừa phải làm những đồ án công trình kiến trúc nhỏ (4 đồ án) vừa phải làm 9 đồ án quy hoạch (kể cả tốt nghiệp). Phục vụ cho việc hoàn thành những đồ án này là hệ thống các môn học bổ trợ: Từ các môn đòi hỏi năng khiếu như Mỹ thuật, Phương pháp thể hiện đến các môn rất “nặng” của Xây dựng như Cơ kết cấu, Sức bền vật liệu, Cấu tạo… để làm các đồ án Kiến trúc. Đồng thời lại phải am hiểu các kiến thức kinh tế - xã hội qua các môn Kinh tế đô thị, Xã hội học đô thị, Địa lý dân cư, Bất động sản… hay hạ tầng kỹ thuật đô thị như: Giao thông, cấp điện, cấp thoát nước…. để làm các đồ án quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị… Trong khi chương trình đào tạo ngày càng rút ngắn lại thì yêu cầu kiến thức đối với sinh viên chuyên ngành quy hoạch lại càng cao và rộng hơn. Điều này tạo ra một nghịch lý là sinh viên sẽ phải học rất nhiều nhưng không chuyên sâu.

Thực tiễn công tác lập quy hoạch cũng như hệ thống các văn bản pháp quy trong lĩnh vực này cũng ảnh hưởng đến nội dung chương trình đào tạo. Các quy hoạch chiến lược thường bị chi phối bởi chủ trương và nghị quyết dẫn đến duy ý chí vì không dựa trên những cơ sở xác thực, không có những dự báo đúng đắn. Quy hoạch chung quy định quá cụ thể và chặt chẽ nhiều khi gò bó và làm mất cơ hôi đầu tư trong đô thị. Trong khi đó, quy hoạch chi tiết lại đơn giản, sơ sài và không cụ thể vì thế không kiểm soát và tạo dựng được đặc trưng không gian. Hệ thống văn bản pháp quy thay đổi liên tục trong thời gian qua, mỗi năm lại có những sửa đổi và quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế nảy sinh trong thực tế. Có những văn bản pháp quy kiểm soát quá chặt tước bỏ nhiều khả năng sáng tạo trong quy hoạch đồng thời tạo ra nhiều kẽ hở khi thực thi. Chương trình đào tạo để đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn phải bổ xung rất nhiều môn học mới đồng thời lại không có căn cứ vũng chắc về cơ sở pháp lý. Trong gần 25 năm qua, sản phẩm đào tạo của nhà trường - các KTS quy hoạch đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng đất nước.

Được đào tạo tương đối bài bản và tổng hợp, các KTS quy hoạch có thể thực hiện được nhiều công tác khác nhau, từ thiết kế những công trình kiến trúc vừa và nhỏ đến quy hoạch chi tiết các khu chức năng đô thị như công viên, quảng trường, khu du lịch đến cả những đồ án lớn như quy hoạch chung đô thị, nông thôn, quy hoạch vùng… Tuy nhiên, có thể thấy việc đào tạo KTS quy hoạch theo kiểu tổng hợp đã có gía trị trong một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội - khi một người phải đảm đương nhiều việc khác nhau ở mức độ tương đối. Xã hội càng phát triển. mức độ phân hóa càng cao, càng đòi hỏi tính chuyên biệt. Mô hình đào tạo cũ đã bộc lộ nhiều bất cập. Chương trình đào tạo nhằm kết hợp giữa một bên là tư duy logic, khả năng phân tích, khả năng dự báo chính xác trong lĩnh vực kinh tế - xã hội với một bên là tư duy sáng tạo, cụ thể và trừu tượng của sáng tác hội họa - kiến trúc; đồng thời lại làm chủ được khoa học kỹ thuật và công nghệ, hạ tầng kỹ thuật đô thị như giao thông, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường… là không khoa học bởi theo tự nhiên, người có khả năng tư duy mảng kỹ thuật thì lại hạn chế về mỹ thuật, người có khả năng hội họa thì lại khó có đầu óc tính toán chính xác cũng như am hiểu về kinh tế, kỹ thuật… Càng nhồi nhét càng quá tải và khó tiếp thu. Hoặc học cho biết mỗi thứ một ít không ứng dụng được - không hiệu quả và lãng phí trong giáo dục đào tạo

Đô thị hóa và quy hoạch đô thị Việt Nam trong những năm gần đây nảy sinh nhiều thách thức và đòi hỏi người hoạt động trong lĩnh vực này phải có kiến thức chuyên sâu hơn. Thực tế khảo sát trong các Viện quy hoạch và cơ quan tư vấn Quy hoạch cho thấy công việc đã phân hóa các chuyên gia thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất: Những KTS có kinh nghiệm, trải qua thời gian dài công tác đã tự trang bị và rèn luyện cho mình khả năng tư duy và phân tích tốt trở thành các KTS chuyên sáng tác và đề xuất ý tưởng, chiến lược, hoạch định kế hoạch phát triển và các vấn đề vĩ mô, các đồ án quy hoạch lớn.

Nhóm thứ hai gồm các KTS có năng khiếu mỹ thuật, giỏi về khoa học công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong triển khai các bản vẽ chi tiết, thiết kế đô thị, kiến trúc cảnh quan cũng như thể hiện, trình bày các bản vẽ, thuyết minh, hồ sơ báo cáo.

Hai nhóm này có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong các đồ án. Có thể thấy nhóm chuyên gia thứ nhất có vai trò quan trọng trong các đồ án, nhưng khả năng mỹ thuật là không cần thiết. ngược lại các hiểu biết sâu sắc về triết học, kinh tế, xã hội, địa lý, lịch sử, văn hóa… lại giúp học đưa ra các quyết định Nhóm thứ hai năng khiếu mỹ thuật lại là yếu tố quyết định để hoàn thành phần việc của mình. Trong nhiều năm qua sinh viên chưa được tiếp cận với thực tiễn nhiều. Sinh viên chưa hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ hiện tượng đô thị hóa như một quá trình kinh tế – xã hội lịch sử mang tính quy luật, quá trình chuyển đổi văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị (hoặc văn hóa nông nghiệp thành văn hóa công nghiệp), sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Sinh viên chỉ có 1 tháng thực tập tốt nghiệp tại các các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh. Trong thời gian ngắn ngủi đó, công việc thực tập của các sinh viên còn mang tính hình thức. Cách học, thực hành hời hợt, đối phó, thụ động không hiệu quả.

Giải pháp
Tù thực tế công tác quy hoạch cũng như xem xét xu hướng đào tạo quy hoạch của các trường đại học trên thế giới, trong những năm qua Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội không ngừng nghiên cứu cải tiến chương trình đào tạo. Một trong những nội dung cải tiến là làm thế nào để đồng bộ sản phẩm đào tạo với thế giới, tạo điều kiện liên doanh, liến kết và liên thông trong đào tạo chuyên ngành Quy hoạch vùng và đô thị. Qua các kết quả điều tra, khảo sát có thể nhận thấy Chương trình đào tạo Kiến trúc sư quy hoạch hiện nay cho ra sản phẩm gần giống với Nhà thiết kế đô thị (Urban Designer) hơn. Trong thời gian tới Khoa Quy hoạch sẽ nghiên cứu đề xuất bổ xung thêm chương trình đào tạo Nhà quy hoạch đô thị (Urban Planner) với đúng ý nghĩa như thế giới vẫn gọi. Việc tách hai chuyên ngành này là cần thiết để tạo điều kiện đào tạo chuyên sâu, giảm thời lượng học tập, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn và quan trọng nhất là phù hợp xu thế đào tạo của thế giới.

Đổi mới sản phẩm đào tạo không chỉ đơn giản là đổi một cái tên mà quan trọng hơn là thay đổi cả nếp nghĩ về công tác quy hoạch, về vai trò và vị trí của chuyên gia quy hoạch đối với sự nghiệp kiến thiết đất nước. Đây là một quá trình cải tổ đầy khó khăn bởi kéo theo đó là sự phân chia lại khối kiến thức thành hai chuyên ngành khác nhau, có những phần chung và phần riêng, phân chia kiến thức đào tạo bậc đại học, sau đại học. Tiếp theo là công tác chuẩn bị đội ngũ giảng viên, tài liệu giảng dạy… Tuyển sinh đầu vào cũng sẽ thay đổi, một bên sẽ thi năng khiếu Mỹ thuật, một bên không. Mặc dù có thể sẽ khác nhau nhưng hai chương trình đào tạo phải đảm bảo đạt được các yêu cầu sau:

  • Đạt được trình độ học thuật và đáp ứng các tiêu chuẩn học thuật được quốc tế công nhận (đó là tính tương thích và tính so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế).
  • Phù hợp với bối cảnh của Việt Nam hiện nay, có khả năng đáp ứng được các nhu cầu thực tế cũng như các yêu cầu phát triển bền vững của ngành quy hoạch.
  • Đáp ứng được các mong đợi, yêu cầu trong chính sách giáo dục về phương pháp giảng dạy lấy họcsinh là trung tâm và việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả.
  • Cấu trúc theo kiểu mô-đun, cho phép phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên tuân theomột lộ trình lô-gic và có thứ tự. Cho phép cải tiến thường xuyên về nội dung các môn học cũng như nội dung chương trình đào tạo, đồng thời có thể phát triển thêm các chuyên ngành cùng họ. Đặc biệt, chương trình mô-đun sẽ tạo điều kiện cho sinh viên được lựa chọn các môn học một cách linh động hơn.
  • Chuẩn hóa hệ thống tín chỉ (so sánh với giá trị tín chỉ đạt được giữa các tổ chức giáo dục khác nhau) do đó, cho phép sinh viên có thể học liên thông với các trường Đại học khác ở Việt Nam và nước ngoài.
  • Tăng cường thời gian và cơ hội tiếp cận với các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh, với các địa phương... cho sinh viên để tìm hiểu, trao đổi, học tập; tổ chức các buổi học trên lớp hoặc hội thảo chuyên đề tại trường, tại các đơn vị nghiên cứu, sản xuất kinh doanh do các chuyên gia có kinh nghiệm thuyết trình...; tổ chức thăm quan thực tế tại địa phương. Lựa chọn các đồ án cụ thể, có chất lượng để làm tài liệu tham khảo cho sinh viên. Các đồ án báo cáo điển hình của sinh viên ngoài tính khoa học, nghệ thuật phải được đề cao thêm tính thực tiễn, tính khả thi.
  • Đào tạo không chỉ trang bị cho sinh viên những tri thức cơ bản về chuyên ngành quy hoạch xây dựng mà còn phải kết hợp với thực hành để sinh viên đủ điều kiện, phương tiện có thể hành nghề được ngay khi ra trường.

Kết luận
Không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo là xu hướng tất yếu của các trường đại
học nói chung, trường Đại học Kiến trúc nói riêng. Một trong những điều kiện để liên kết và hợp tác là sự tương đồng về sản phẩm và chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo chuyên ngành Quy hoạch vùng và đô thị hiện nay là kết quả của quá trình phấn đấu không ngừng hoàn thiện của Khoa và Nhà trường. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn những khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn Việt Nam hay liên kết với các nước tiên tiến trên thế giới. Sản phấm Kiến trúc
sư quy hoạch hiện nay chưa tương ứng với bất cứ danh hiệu nào của các nước khác.

Xác định lại sản phẩm đào tạo cho phù hợp với thực thực tiễn họat động quy hoach xây dựng ở Việt Nam và xu hướng đào tạo của các nước trên thế giới là cần thiết. Phân chia sản phẩm đào tạo thành hai loại cho phép nâng cao kiến thức chuyên ngành sâu, giảm thời lượng đào tạo. Thay đổi sản phẩm đào tạo kéo theo phải đổi mới chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên và tài liệu giảng dạy. Hơn thế nữa đây là quá trình đổi mới khó khăn bởi có những rào cản trong tư duy quy hoạch xây dựng cũng như quản lý giáo dục. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ Khoa Quy hoạch phải thực hiện để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, xứng đáng là cái nôi đầu tiên đào tạo cán bộ ngành quy hoạch của Việt Nam.
* Bộ môn Quy hoạch đô thị - Khoa Quy hoạch đô thị-nông thôn

Tài liệu Tham Khảo
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo: Chương trình khung giáo dục đại học ngành Quy hoạch đô thị. hà Nội. 2004.
2. Trường Đại học Kiến trúc hà Nội: Quyết định số 2237/QĐ- ĐhKT- ĐT ngày 09/9/2008 về việc Ban hành chương trình đào tạo các ngành và chuyên ngành theo hệ thống tín chỉ.
3. Trường Đại học Kiến trúc hà Nội: Quyết định số 409/QĐ- ĐhKT-ĐT ngày 03 tháng 10 năm 2011 của hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc hà Nội
4. Trường Đại học Kiến trúc hà Nội: Đề án Nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc hà Nội. hà Nội 11/2004.
5. Khoa Quy hoạch: Tuyển tập báo cáo khoa học 10 năm Khoa Quy hoạch. hà nội. 2002.
6. hội quy hoạch PTĐT Việt Nam: Đô thị và Quy hoạch, Vấn đề và Giải pháp. hội thảo khoa học., 2/2004.
7. lâm Quang Thiệp, lê Viết Khuyến: Chương trình và quy trình đào tạo đại học. Trích ” một số vấn đề giáo dục đại học” NXB ĐhQG hN, 2004
8. Đỗ Đức Viêm: Nghiên cứu cải tiến mục tiêu chương trình, kế hoạch đào tạo Kiến trúc sư quy hoạch. Báo cáo tổng kết đề tài NCKh cấp bộ, mã số RD 77, hà Nội 2001.
9. lương Tú Quyên: Đổi mới chương trình đào tạo Quy hoạch vùng và đô thị. Báo cáo tổng kết đề tài NCKh cấp trường. 2012

(Nguồn:PGS.TS.KTS. Lương Tú Quyên - Tạp chí quy hoạch (Số 83+84))
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website