
Theo đó, Kế hoạch nhằm giải quyết các vị trí ngập nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh; hoàn chỉnh, cải tạo các trục tiêu thoát nước chính, kết hợp với chỉnh trang và di dời nhà ở ven và trên sông kênh rạch; truyền thông và giáo dục để nâng cao ý thức trách nhiệm, sự hiểu biết và đồng thuận của cộng đồng để bảo vệ hệ thống thoát nước.
Về giải pháp phi công trình, đối với công tác thoát nước đô thị, tổ chức rà soát, đánh giá các quy hoạch thoát nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, để đề xuất điều chỉnh quy hoạch thoát nước trong quy hoạch tổng thể và quy hoạch chuyên ngành (rà soát các quy hoạch 752/QĐ-TTg ngày 19/6/2001, 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008, quy hoạch thời kỳ 2021-2030 và các quy hoạch tỉnh Bình Dương trước sáp nhập và Bà Rịa – Vũng Tàu trước sáp nhập), cập nhật, tích hợp các giải pháp mới vào quy hoạch tổng thể phòng chống lụt bão, tiêu thoát nước theo hướng tích hợp, liên lưu vực, nhằm xác định các hạng mục không còn phù hợp, các tuyến cần điều chỉnh quy mô, công suất và các hạng mục phải bổ sung theo các kịch bản biến đổi khí hậu.
Tổ chức lập điều chỉnh Đề án Chống ngập và xử lý nước thải TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2045 và Kế hoạch Chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2020-2030. Trong đó, tổ chức đánh giá toàn diện hiện trạng hạ tầng thoát nước; cập nhật kịch bản Bbiến đổi khí hậu như nước biển dâng, sụt lún đất,...; giải pháp quản lý việc sử dụng và bảo vệ hành lang thoát nước; ứng dụng hệ thống quản lý thoát nước thông minh như GIS, AI, dữ liệu thời gian thực; duy tu hệ thống cống kênh và mở rộng không gian nước đô thị; chuyển đổi sang mô hình thích ứng, quản lý rủi ro ngập, phát triển mô hình hồ điều tiết và các giải pháp "xanh" (hồ cảnh quan, công viên trữ nước; thống nhất đầu mối quản lý; giải pháp kết nối vùng; hoàn thiện cơ chế tài chính huy động nguồn lực chống ngập...
Kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về lấn chiếm hệ thống thoát nước và hành lang bảo vệ sông, kênh, rạch có chức năng tiêu thoát nước; kiểm tra, xử lý kịp thời các điểm tắc nghẽn cục bộ, đảm bảo hệ thống thoát nước được kết nối liên phường, xã và hệ thống hạ tầng có liên quan; đảm bảo hoạt động đồng bộ xuyên suốt.
Hoàn chỉnh Phần mềm Báo cáo ngập trực tuyến và hỗ trợ ra quyết định (Nền tảng FEDS) đưa vào khai thác, vận hành; tổ chức vận động người dân Thành phố không xả rác ra đường và kênh rạch, vì Thành phố sạch và giảm ngập nước” của Ban Thường vụ Thành ủy.
Đối với công tác thủy lợi, tổ chức rà soát, đánh giá quy hoạch để xác lập không gian thoát lũ nhằm xác định hành lang thoát lũ tại các khu vực ven sông, suối, kênh rạch thoát nước; xây dựng phương án phát triển công trình thủy lợi trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng, nâng cấp hệ thống quan trắc, cảnh báo từ xa, từ sớm và áp dụng công nghệ số vào vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi đảm bảo công tác vận hành điều tiết theo thời gian thực.
Xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu thủy văn, phối hợp liên vùng về vận hành hồ chứa nước (điều tiết tích, xả lũ của các hồ chứa thượng nguồn lưu vực sông Sài Gòn, Đồng Nai - hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An và các hồ chứa trên địa bàn Thành phố) nhằm đảm bảo an toàn công trình, chủ động giảm lũ cho hạ nguồn, tránh tổ hợp bất lợi (triều cường, mưa lớn kết hợp xả lũ).
Triển khai các giải pháp nhằm ứng phó, hạn chế tình trạng sụt lún đất trên địa bàn Thành phố như giảm khai thác nước dưới đất; ban hành danh mục, bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; nâng nền cục bộ,... (thực hiện giảm khai thác nước dưới đất trên địa bàn Thành phố theo Quyết định số 1242/QĐUBND ngày 30/3/2018 của UBND Thành phố được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 52/QĐ-UBND ngày 06/01/2025; tham mưu UBND Thành phố ban hành danh mục, bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất làm cơ sở để Thành phố xem xét, cấp phép khai thác nước dưới đất hiệu quả gắn với công tác bảo vệ sụt lún mặt đất;…).
Về cơ chế chính sách, UBND Thành phố ban hành danh mục dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và đầu tư công cấp bách làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện.
Sở Tài chính đề xuất cơ chế thu hút nguồn lực theo phương thức đối tác công tư, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, người sử dụng dịch vụ (việc sử dụng nguồn vốn Thành phố trong từng dự án cụ thể phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế; nguồn vốn Thành phố đóng vai trò dẫn dắt, là “vốn mồi” để thu hút tối đa nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác theo phương châm “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”).